Mẩu Truyện Phật Giáo

Truyện Kể Trong Ngày Lễ Vu Lan

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Vào ngày lễ Vu Lan, quý vị thường nghe các Thầy nói về ba ý nghĩa trọng đại của ngày lễ.  Ý nghĩa thứ nhất, đây là ngày Chư Tăng giải chế an cư kiết hạ.  Ngày này còn gọi là ngày “Phật hoan hỉ” do vì Đức Thế Tôn thường rất vui khi thấy chư tỳ kheo sau ba tháng tĩnh cư tu tập nghiêm mật, ai cũng có thần thái trong sáng, oai nghi rỡ ràng, lại có nhiều vị chứng được thánh quả.

Ý nghĩa thứ hai, đây là ngày giải cứu chúng sinh trong cõi ưu đồ đã từng tạo ác nghiệp.  Ngày này còn được gọi là ngày “Giải đảo huyền”.  Tên gọi này xuất phát từ nguyện ước của ngài Mục Kiền Liên khi ngài thấy vong linh của mẹ đang lạc lõng trong cõi ưu đồ.  Vì rất thương mẹ, ngài Mục Kiền Liên đã xin Đức Thế Tôn chỉ dạy cho phương pháp cứu vong linh của bà.  Đức Thế Tôn dạy rằng sau ba tháng an cư, chư tăng thường có phẩm hạnh đoan trang, năng lực thánh hạnh rất nhiệm mầu.  Đấy chính là lúc nên tập trung thần lực để cầu siêu cho mẹ.  Từ đó, ngày này được gọi là ngày “Giải đảo huyền”, nghĩa là cứu những nỗi khổ của hương linh người thân đã từng tạo ác nghiệp.

Và ý nghĩa thứ ba, đây là ngày lễ cài bông hồng lên áo các người con, còn được gọi là ngày “Bông hồng cài áo”.  Chúng ta thường bận rộn cả năm, đôi khi không có thời gian nhìn lại để hiểu hình hài mình từ đâu mà có.  Do vậy, lễ Vu Lan thường gắn liền với niềm tri ân của chúng ta đối với đấng sinh thành, nhất là đối với mẹ, người đã gánh chịu nhiều cơn đau khi đưa ta vào đời.  Có lần tôi được một đệ tử học ngành y kể về nỗi đau của người mẹ khi sinh con.  Lúc cái đầu của đứa bé ra khỏi lòng mẹ, người mẹ đã phải chịu đau khôn kể.  Nhưng cái đau đó chỉ để báo rằng cơn đau kế tiếp sẽ khủng hoảng hơn rất nhiều. Kích thước đôi vai của đứa bé không nhỏ, lại chẳng khép được như đôi cánh phi cơ.  Vậy mà người mẹ vẫn phải làm mọi cách đưa đôi vai ra ngoài.  Người ta nói “Đàn ông đi biển có đôi.  Đàn bà đi biển mồ côi một mình.” Thật vậy, khi người mẹ sinh con chính là lúc bà thi thố với cái chết, và cho dù y khoa phát triển đến ngần nào đi nữa, nỗi đau sinh con của người mẹ vẫn như thế!

Nhân đây, tôi xin kể quý vị nghe vài câu chuyện về tình mẫu tử.  Câu chuyện thứ nhất xảy ra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam.  Những người dân quê ở đây thường sống bằng nghề câu cá, hay còn gọi là nghề nhấp cá.  Thợ câu nào ở vùng sông nước này cũng biết một khi cá lóc hay cá trê sinh con, cá mẹ thường lội quanh bầy cá con để bảo vệ chúng.  Bất cứ một con cá nào khác lai vãng đến gần bầy cá lòng ròng – tức là đám cá con, cá mẹ táp liền, quyết không tha.

Thế rồi một ngày nọ, có anh thợ câu từ bến sông thả thuyền đi ra xa cả ba cây số.  Anh may mắn tìm được luồng cá lòng ròng.  Anh liền móc một con cá làm mồi, rồi thả mồi xuống nước.  Anh mừng thầm vì biết chắc mình sẽ câu được con cá mẹ đem về nấu canh chua.  Và anh đoán không sai, cá mẹ đã táp trúng mồi chỉ vì muốn bảo vệ đàn con.  Câu thêm một hồi nữa vẫn không thêm được con cá nào, anh quyết định bơi thuyền vào lại bến sông.  Lên đến bờ, anh nhanh tay lấy con cá mẹ lúc nãy câu được ra đánh vẩy.  Anh làm vậy để thịt cá về đến nhà vẫn còn ngon.  Tuy nhiên vì lơ đãng, anh giữ cá không đủ chặt.  Cá quẫy mạnh, tuột ra khỏi tay anh, phóng liền xuống sông.  Cá lội ra thật xa với thân mình còn máu chảy đầm đìa.  Anh tiếc rẻ nhìn theo con cá, nhưng chẳng làm gì khác được!

Hôm sau, anh lại thả thuyền trôi ra sông.  Anh lại thấy một đàn cá lòng ròng.  Mừng rỡ, anh móc mồi và thả mồi xuống giữa luồng cá con.  Anh tin chắc rằng lần này cũng sẽ bắt được cá mẹ của bầy cá con này.  Quả nhiên, cá mẹ cắn câu, và anh vô cùng bàng hoàng khi thấy đó chính là con cá mẹ đã bị anh đánh vẩy hôm qua.  Anh không thể mường tượng được tại sao một con cá đã bị đánh vẩy hết hai bên lại có thể lội ba cây số đường sông nước để quay về tiếp tục bảo vệ đàn con của nó.  Anh cẩn trọng kéo cần câu lên, nhanh chóng gỡ lưỡi câu ra khỏi miệng cá và thả cá lại xuống sông.  Kể từ ngày ấy, anh tự hứa với lòng từ nay không làm nghề nhấp cá nữa. Vậy mới thấy trong loài cá, tình mẫu tử cũng thiêng liêng như tình mẫu tử trong loài người.

Câu chuyện thứ hai tôi đọc được trong một cuốn sách của Tolstoy viết về tình mẫu tử của loài chim.  Ông viết rằng lúc bé, khi cùng với bố đi săn, ông thấy một con diều hâu trên cao xà xuống trước mặt hai con chó săn của bố ông.  Khi chó săn nhảy tới vồ, nó liền cất cánh bay lên. Nhưng rủi ro làm sao, nó không cất cánh đủ nhanh, thế là bị hai con chó săn vật chết.  Cậu bé Tolstoy lúc ấy ngạc nhiên lắm, liền hỏi bố: “Bố ơi! Tại sao con chim diều hâu này đang bay trên vùng trời mênh mông, lại nhào xuống trước mặt chó săn làm gì để bị vật chết?”  Bố ông trả lời rằng: “Chắc đâu đây có ổ chim con.  Bố đoán nó sợ đám chó săn nhà mình tới làm hại những đứa con còn nhỏ của nó, nên nó giả vờ xà xuống, trêu chọc hai con chó săn, rồi dẫn dụ hai con chó nhà ta đi xa khỏi vùng tổ chim.  Rủi cho con chim mẹ đã cất cánh không kịp mới bị chó săn nhà ta giết đó thôi!  Con thử đến phía kia tìm xem có tổ chim nào không!”  Cậu bé Tolstoy nghe lời bố, đi về hướng ông chỉ.  Quả nhiên Tolstoy thấy một tổ chim có ba con chim con vừa chui ra khỏi vỏ trứng.

Hai câu chuyện trên đều kể về sự hy sinh trong tình mẫu tử của loài động vật.  Loài người của chúng ta do có trí năng đã vươn lên chiều cao nên có cảm xúc và tư duy cao hơn loài động vật.  Tâm thức của chúng ta đối với tình mẫu tử thiêng liêng cũng đậm nét hơn và năng lực duy trì đời sống của chúng ta cũng bền bỉ hơn so với loài động vật.  Những ưu điểm này được tìm thấy trong câu chuyện tôi sắp kể, xảy ra tại vùng miền trung nước Mỹ.

Câu chuyện kể về một vụ đụng xe nơi góc đường.  Cảnh sát đến đó, thấy nạn nhân là một người đàn bà trong tình trạng mê man bất tỉnh.  Người ta liền đưa bà đến bịnh viện.  Nơi đây người ta khám phá bà đang cưu mang một em bé trai trong bụng.  Tuy người mẹ lâm vào tình trạng sống thực vật, không còn hiểu biết chi cả, cậu bé trong bụng mẹ vẫn ngang nhiên thở vào thở ra theo nhịp thở của mẹ.  Nhóm bác sĩ trong bệnh viện vô cùng sót xa cho hoàn cảnh của bà mẹ và đứa bé.  Họ họp nhau lại, tìm cách cứu hai mẹ con.  Cuối cùng họ quyết định duy trì thọ mạng của người mẹ bằng cách cho bà thở oxy.  Họ làm vậy cho đến ngày đứa bé đủ lớn, rồi họ dùng phẫu thuật đưa bé ra ngoài, cho nằm lồng kính và nuôi nấng.

Đến ngày chú bé được đưa ra khỏi bụng mẹ, người ta kề tai nói với bà mẹ rằng: “Chị à! Cuối cùng giọt máu của chị đã được cứu sống.  Xin chị hãy yên lòng!”  Người ta thấy hai dòng nước mắt chảy ra từ khóe mắt của người đàn bà đã nằm bất động trong nhiều tháng qua.  Người ta cũng nhìn thấy hai dòng sữa chảy ra.  Họ liền đưa chú bé đến bú những giọt sữa đầu tiên của người mẹ.  Sau đó người mẹ khép mắt, ra đi vĩnh viễn.  Chính tình mẫu tử thiêng liêng đã giúp người mẹ duy trì mạng sống cho đến ngày con của bà được bú những giọt sữa đầu đời.  Khi ấy bà mới chịu ra đi.

Hình ảnh bà mẹ trong câu chuyện kể trên làm tôi nhớ đến hình ảnh của một ngọn cỏ bên đường.  Sau nhiều ngày nắng chói chang, nó bị thiêu đốt.  Thế nhưng với một chút sương đêm, nó xoay sở sống lại, cố gắng duy trì thọ mạng sang ngày hôm sau, rồi nhiều ngày hôm sau nữa.  Để cuối cùng nó làm được một việc là nở một bông hoa, rồi kết trái, và gửi lại trong lòng đất một hạt mầm, sau đó mới bằng lòng trả hình hài về cho cát bụi.

Từ những câu chuyện vừa kể, tôi muốn nhắc nhở quý vị ba việc cần phải làm ở cương vị thứ nhất là phận làm con đối với cha mẹ, thứ hai là phận làm con đối với hình hài cha mẹ đã ban cho, và thứ ba là phận làm cha mẹ đối với thế hệ sau này.

Đầu tiên hết, là phận làm con, quý vị phải biết tri ân sự hy sinh của người mẹ đã vượt cạn để quý vị có mặt trên trần đời.  Quý vị có thể đến chùa tụng một thời kinh, sau đó hồi hướng công đức lành đến bậc sinh thành ra mình của đời này và nhiều đời trong quá khứ.  Việc làm này có lợi ích thật hay không?  Các bậc sinh thành có hưởng được năng lượng lành của ta hồi hướng hay không? Nếu có, tại sao mình không thấy? Nếu không, tại sao quý thầy trong tự viện bày ra trò tụng niệm làm gì?

Thưa quý vị, đừng nghĩ rằng chúng ta chỉ tin vào những gì có thể chứng minh được.  Ví dụ trong trường hợp lòng mình bồn chồn bất an, bố mẹ của mình có khi ở xa vài trăm dặm cũng bồn chồn bất an theo.  Điều này khoa học có chứng minh được chưa?  Thưa vẫn chưa! Năng lực tâm thức của chúng ta có sức mạnh kỳ lạ như vậy đó, nếu dùng lăng kính của vật lý vẫn không đo lường được.  Vì thế, nếu quý vị hồi hướng năng lượng lành của mình đến những người thân đã khuất, cho dù họ đã bỏ hình hài nơi cát bụi, nhưng phần còn lại là tâm thức của họ vẫn thừa hưởng được năng lượng lành mà quý vị gửi đến.  Cũng giống như ngày xưa, cứ mỗi một lần đi khất thực, các cư gia Phật tử phát tâm lành cúng dường thức ăn vào bát của Đức Phật và các chư Tỳ kheo.  Sau khi Đức Phật và các thầy thọ nhận xong, tất cả đều cầu nguyện chúc phúc cho những cư gia Phật tử ấy.  Có nhiều trường hợp họ hưởng được phúc lợi tức thời, có những trường hợp họ thọ nhận điều lành ở kiếp sau.  Đó là điều tất nhiên chúng ta có thể tin tưởng được.

Ngoài ra, chúng ta không chỉ tri ân đấng sinh thành mà còn phải tri ân các bậc tiền bối.  Họ là những người đã xây dựng nên quốc gia này, làm nên văn hóa xã hội này. Không một sự sống nào không có gốc rễ sâu xa tiềm phục.  Khi nhìn vào một thân cây, nếu nghĩ rằng sự sống chỉ có mặt từ thân cây trở lên là sai lầm vì sự sống thật sự có mặt từ dưới rễ.  Phần rễ chìm ẩn không ai thấy nhưng lại rất quan trọng do vì nó nuôi dưỡng toàn bộ thân cây.  Các vị tiền bối cũng có vai trò như thế!  Do vậy chúng ta phải biết tri ân họ vì chính họ đã bỏ xương trắng máu đào để chúng ta có một cuộc sống an bình ngày nay.

Thứ hai, tôi xin nhắc quý vị phải nhớ tri ân hình hài mà cha mẹ đã ban cho mình.  Sự sống của chúng ta vô cùng mầu nhiệm, do vì có vô vàn điều mầu nhiệm khác đã duy trì thọ mạng cho ta.  Hãy thử nghĩ xem, khi ta còn nằm trong bụng mẹ, nếu có điều gì sơ xảy đến mẹ, chúng ta đã không có mặt trên trần đời.  Rồi sau khi chào đời, nếu mẹ ta vụng về chăm sóc ta, chúng ta cũng đã không có mặt ngày hôm nay.  Chiến tranh hoạn họa phủ trùm trên quê hương ta, chẳng may một trái bom nổ ngay sát cạnh, chúng ta cũng không thể có mặt nơi đây.  Đời sống vô cùng mầu nhiệm đã đẩy lùi tật bệnh và hiểm họa để duy trì được thọ mạng cho ta.

Vậy còn đợi gì nữa mà chúng ta không tỏ lòng tri ân với triệu triệu nhân duyên lành thiện đã giúp ta có mặt giữa nhân gian! Và hãy tự hỏi mình đã trân quý đủ đời sống của chính mình chưa?  Hay chúng ta nỡ giận, nỡ hờn, nỡ làm khổ ta, làm khổ người bằng những phiền muộn vô cùng cỏn con?  Theo tôi, người biết trân quý hình hài và đời sống của mình là người biết sống thế nào để loại trừ được bệnh tật, phiền muộn, và biết thưởng lãm một cuộc sống an lạc.  Vậy phải làm sao để có được có được cuộc sống khỏe mạnh và an lạc?

Theo thống kê, 90% tật bệnh và phiền muộn quý vị gặp phải không do các yếu tố bên ngoài, mà do những điều kiện bên trong tâm thức tạo thành.  Chính những băn khoăn lo âu phiền muộn đã khiến độc dược từ trong não bộ tiết ra, tàn phá đời sống chúng ta.  Chính những hình ảnh đầy bạo lực tiêu cực đã khiến hệ thần kinh tạo ra những hóa chất làm cơ thể mệt mỏi, làm tế bào kháng thể chết dần đi.  Tật bệnh do vậy tự nhiên sinh khởi.  Là người thông minh, chúng ta chỉ nên để mắt tiếp xúc với trời xanh, tai nghe những lời dịu ngọt, bảo vệ tất cả giác quan bằng môi trường đẹp đẽ.  Khi ấy, tâm thức bên trong ắt khởi sinh thiện niệm, và nhờ vậy không một tật bệnh nào có đủ điều kiện phát sinh cả.

Cuối cùng, với cương vị làm bậc cha mẹ, quý vị đừng quên hành xử, nói năng như thế nào để có ảnh hưởng lành thiện đến những sinh linh bé nhỏ do chính mình sinh ra.  Cách sống của quý vị thường có ảnh hưởng rất lớn đến tâm thức của các cháu.  Vì thế, nếu không cẩn trọng, quý vị cho ra giữa trần đời này những đứa bé vô cùng bất hạnh, sống một cuộc sống nghiệt ngã, trong một gia đình cha mẹ bất thuận với nhau từng ngày.  Rồi sau này, khi lớn lên, con của quý vị sẽ cư xử với vị hôn phối của nó y như cách quý vị đã từng làm.

Nên nhớ rằng, cho dù quý vị là tỉ phú, để dành tài sản rất lớn cho con mình, nhưng đời sống con người không đơn giản chỉ có tiền là có hạnh phúc.  Hạnh phúc là điều gì đó nằm sâu bên trong trái tim của chúng ta.  Từ thuở ban sơ, chúng ta đã được nuôi dưỡng bằng tình thương của cha mẹ mà tồn tại đến ngày nay; thì bây giờ, là bậc cha mẹ, quý vị phải tạo cho thế hệ tương lai có được phẩm chất tốt lành khi sống giữa cuộc đời.

Trước khi kết thúc, tôi xin kể thêm một câu chuyện xảy ra tại Úc châu.  Qua truyện kể này, quý vị sẽ thấy tình thương của bậc cha mẹ, nhất là của người mẹ tác động lớn đến nhường nào đến những sinh linh bé nhỏ mà bà đã cho ra đời.  Chuyện kể về một cặp song sinh đã chào đời sớm hơn ngày dự tính.  Nhóm bác sĩ đưa được bé gái thứ nhất ra ngoài.  Nhưng bé trai thứ hai không được may mắn như chị của nó.  Bé đã ra đi trước khi kịp cất tiếng khóc chào đời.  Cả y tá lẫn bác sĩ nỗ lực hết mình trong hai giờ đồng hồ nhưng vẫn không cứu được bé.  Khi báo tin buồn cho người mẹ biết, bà không tin con mình đã qua đời.  Bà nói: “Hãy đưa nó cho tôi!”

Mọi người đứng nhìn bà mẹ ôm đứa con trai chỉ cân nặng hai pounds vào lòng.  Bà nói với sinh linh bé nhỏ:

  • Con có biết không, mẹ thương con lắm. Jimmy là tên mẹ đặt cho con.  Mẹ nghĩ con sẽ ở lại với bố mẹ.  Ngoài chị vừa ra đời trước con, con còn có một anh nữa.  Nhà của chúng ta ở gần đây lắm.  Hãy về nhà với mẹ, sống chung với gia đình mình.

Trong hai giờ đồng hồ, bà không ngừng thầm thì trò chuyện với đứa bé.  Trong lúc nói chuyện, cứ khoảng mười lăm phút, đứa bé ngớp một hơi. Tình trạng “hớp cá” này thường xảy ra với những người sắp chết.  Các y tá lý giải rằng đứa bé đang thở ra cho hết phần hơi còn trong cơ thể trước khi thật sự từ giã cõi trần.  Người mẹ chẳng màng lời giải thích của các y tá.  Nước mắt đầm đìa, bà vẫn một mực ôm sát đứa bé vào da thịt của mình. Vừa nói với nó bằng những lời xuất phát từ trái tim thương yêu, bà vừa đích thân vắt những dòng sữa đầu tiên, quẹt lên miệng đứa bé.  Quý vị có ngờ được không, nhờ những lời gọi tràn đầy thương yêu của bà, đứa bé đã từ từ thở những nhịp thở bình thường.

Câu chuyện kết thúc ở đây, và cũng là truyện cuối cùng trong loạt truyện kể có liên quan đến ngày lễ Vu Lan.  Một lần nữa, tôi xin nhắc quý vị, là bậc làm con, quý vị phải biết tri ân bố mẹ, người đã cho mình một hình hài vô giá.  Là bậc làm cha mẹ, quý vị đã cho con của mình một hình hài, một đời sống, nhưng thế vẫn chưa đủ.  Hãy sống một đời sống thông minh, lợi dụng một kiếp người để làm thiện nghiệp tràn đầy, và cài những thiện nghiệp ấy vào trong tâm thức của thế hệ sau.  Sống được như thế, quý vị đã tặng cho con mình một đời sống tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

Trên đây là đôi điều tôi gửi gấm đến quý vị trong ngày lễ Vu Lan.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thích Phước Tịnh – 2010

No comments yet.

Share Your Thought. Leave a Comment