Mẩu Truyện Phật Giáo

THIẾT LẬP SỰ CÂN BẰNG

Tình cảm và lý trí

Nếu chỉ dùng con mắt bình thường để nhìn, chúng ta cũng thấy được trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh luôn có hai phần, đó là phần tình cảm và phần lý trí. Hai phần này nếu không cân bằng, đời sống không thể có an lạc. 

Trong đời thường, nếu chúng ta thiên trọng phần lý trí, bỏ đói phần tình cảm, đời sống sẽ rất ‘khô’, không thể liên hệ với nhiều người để tạo phúc lạc cho mình và người. Nếu để đời sống tình cảm quá nặng, chúng ta dễ bị lừa gạt do thiếu lý trí, dễ rơi vào tình trạng sướt mướt ủ ê. 

Trong thế giới tâm linh, không phải tôn giáo nào cũng coi trọng việc quân bình hoá lý trí và tình cảm. Theo dòng chảy của lịch sử, sau thời cực thịnh của đạo Phật, Bà la môn giáo hồi phục lại vị thế đã có từ quá khứ, với chủ trương Thần ngã trường tồn làm thành nền tảng văn hóa cho đa số cộng đồng quần chúng. Họ quan niệm ‘tôi chính là một Tiểu linh hồn tạm mượn hình hài này, sau khi chết nhờ sự thờ phụng Thần linh tôi sẽ sinh vào Thiên giới cộng trú với Phạm thiên trong một thế giới anlạc’.  Do vậy, Bà la môn giáo khuyến khích tín đồ của họ đặt niềm tin tuyệt đối vào đấng Phạm Thiên để được sinh về cảnh giới lành. Chủ trương này đẩy mạnh phần tình cảm thể hiện qua niềm tin mà không coi trọng phần phát triển trítuệ.

Ngược hẳn với Bà la môn giáo, đạo Phật không chủ trương có một linh hồn trường cửu bất biến tu tập để sinh về cộng trú với vị Thần linh hay Thượng đế nào. Nền tảng giáo lý Đạo Phật là năm uẩn vốn không có chủ thể, không có cái gọi là bản ngã chắc thật trường tồn bất biến, nên không có chuyện tu hành thờ phụng thần linh hết lòng để sau khi chết sinh về cộng trú nơi đâu. Triết lý dễ hiểu là ngay cái tôi còn chẳng có thì cái gì di chuyển để sinh vào chỗ nọ chỗ kia. Thế nên, pháp tu Đạo Phật là quán chiếu thấu đạt tự tánh ngũ uẩn vốn vô Ngã, đoạn trừ chấp trước phiền não chứng nghiệm tự thể Niết bàn mà chẳng sinh về đâu. Nhưng theo dòng chảy thời gian, sự phát triển của Phật giáo Đại thừa, pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh về cảnh giới của Đức Phật A Di Đà đã có mặt vào thế kỷ thứ II ( trước công nguyên). Trước tiên để đối kháng với Bà La Môn giáo đang lớn mạnh, kế tiếp mở cánh cửa phương tiện nhiếp hóa mọi căn cơ chúng sinh đều có thể đến với công trình tu tập, Tịnh tông có mặt đã làm nên bao công trình văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, làm giàu có gia tài văn hóa cho các quốc gia Đông phương như Trung hoa, Hàn quốc, Nhật bản, Việt nam. Đứng trên quan điểm hành Bồ Tát Đạo vận dụng phương tiện pháp độ sinh mới thấy các Tổ Tịnh tông đã chắp cho công trình độ sinh của giáo lý Đạo phật đôi cánh để cân bằng cả tình lẫn lý. Nhờ có ‘Từ Bi’ của cánh cử Tịnh tông và ‘Trí Tuệ’ của cánh cửa thiền quán, đạo Phật mới tồn tại được đến ngày hôm nay.

Hãy nhìn vào sự phát triển Đạo Phật khi có các bộ phái của Phật giáo khai triển các pháp môn nghiêng về lý trí thì sẽ có những dòng tu khai triển pháp hành thiên trọng tín ngưỡng, tạo thế cân bằng cho đạo Phật.  Ví dụ Thiền tông là pháp môn lấy phương châm chấm dứt khổ đau bằng năng lực trí tuệ. Tuy nhiên, không phải ai cũng đến với công phu thiền tập được, từ đó phát sinh Tịnh độ tông, pháp môn niệm Phật thiên trọng tình cảm được ra đời. Bên cạnh đó, có những pháp môn trong một pháp tu đã có sự cân bằng cả lý trí và tình cảm để người tu đi tới sự thành tựu hài hòa cả trí và bi.

Lại nữa, trong giai đoạn tiêu trầm nhất của đạo Phật, các thiền sư cao Tăng lỗi lạc của Phật giáo gặp khó khăn, không thể hành đạo, truyền bá chánh pháp. Đó là lúc giai đoạn Tịnh tông phát triển để duy trì nền tảng Phật giáo. Khi gặp hoạn hoạ, dân tình ly tán, ai cũng cần có một niềm tin để nương về.

Chính trong những giai đoạn nhiễu nhương ấy, Tịnh tông giúp con người có được niềm tin, không chỉ cứu được đời này mà có khi cả nhiều đời sau. Chẳng phải tụng Kinh, niệm Phật là cách gieo chủng nhân lành với Tam bảo trong đời này và nhiều, nhiều đời nữa hay sao?

Trung thực mà nói, trường phái Tịnh tông từ quá khứ cho đến nay làm được bao nhiêu việc cho sự tồn tại của Đạo Phật. Những người tu theo Tịnh Tông thành đạt sự an lạc hiện tiền, vãng sinh về cảnh giới an lạc sau khi chết không phải ít. Tịnh Độ Tông cũng sinh ra rất nhiều các bậc Thầy kỳ vĩ, đức hạnh sáng chói, chứng nghiệm giải thoát, tự tại trước tử sinh rất nhiều. Những công trình xây dựng già lam tự viện, công trình bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo tượng, đa phần là do bàn tay của người Phật tử Tịnh tông làm nên. Việc này trong Thiền tông các vị Thiền sư hay xem rất nhẹ, ít chú tâm, và đôi khi hơi cực đoan khi quan niệm ‘Toạ thiền đâu chả được, cứ gì phải chùa cao Phật lớn! Ngồi ở gốc cây, bên gò mả, trong rừng vắng đều thiền được cả mà!’

Tuy nhiên, điều gì đi đến cực đoan cũng thành dở. Ví dụ người theo truyền thống Thiền tông nếu đi đến cực đoan dễ bài bác những pháp môn nặng màu sắc tín ngưỡng. Ngược lại, những người theo Phật giáo tín ngưỡng nếu không biết quân bình đời sống bằng những pháp tu trí tuệ sẽ dễ lạc vào tình trạng mê tín. Để tránh rơi vào tình trạng cực đoan, người theo học Phật nên am tường cả ba lãnh vực lịch sử, giáo lý, và tu tập. Có được trình độ Phật học nhất định, bản thân sẽ không rơi vào tình trạng cực đoan nghiêng về một phía, không phân vân thắc mắc mà rất vững niềm tin khi nghe truyền thống này bài bác truyền thống kia. Bên cạnh đó, bản thân không chỉ lượn lờ trên mặt lý thuyết, lạc mất trong nẻo lý luận, mà thật sự bước vào công phu hành trì, giúp mình và giúp được người khác đi đúng đường chánh pháp, tùy theo nhu cầu và căn cơ của người đã gieo trồng trong quá khứ mà chọn pháp môn hành trì hoặc “trí” hoặ  “bi” để đi đến sự thành tựu tối hậu.

Pháp môn thiên về Trí

Trong những buổi pháp thoại, tôi hay lấy truyện Tây Du Ký ra kể, thứ nhất là để thay đổi không khí, thứ hai vì truyện Tây Du Ký chuyển tải nhiều bài học Phật dạy. Ai cũng biết Ngô Thừa Ân, tác giả của truyện Tây Du, rất am tường về giáo lý đạo Phật nên đã khéo lồng Phật pháp vào nội dung truyện.

Thế rồi trong một buổi ‘Vấn đáp Phật pháp’ tại chùa Văn Thù, một Phật tử hỏi tôi ý nghĩa của “Thuyền Bát Nhã không đáy” trong truyệnTây Du Ký.  Đó là đoạn Tôn Ngộ Không giúp Thầy là Đường Tam Tạng qua bờ kia của sông để thỉnh kinh tại Lôi Âm Tự. Đứng bên bờ sông, Ngộ Không nhắc Thầy: ‘Sư phụ, gọi thuyền đi!’. Đường Tăng lớn tiếng gọi thuyền. Khi người dong thuyền cập bến, Ngộ Không lại nhắc Thầy: ‘Sư Phụ, xuống thuyền đi!’ Đường Tăng không dám bước xuống vì thấy đó là một chiếc thuyền không đáy, nước sông lại cuồn cuộn chảy rất đáng sợ. Ngộ Không trấn an Thầy: ‘Sư phụ, đừng lo! Đây là thuyền Bát Nhã, Sư phụ cứ xuống đi!’.  Thấy Thầy chần chừ, Ngộ Không đẩy Thầy một phát té xuống thuyền. Đường Tăng khi đã xoay xở đứng vững trong lòng thuyền, bình tĩnh nhìn chung quanh chợt thấy một xác người trôi cạnh đó.  Đường Tăng hỏi Ngộ Không: ‘Tại sao lạicó xác người trôi thế kia?’.  Ngộ Không trả lời: ‘Thầy nhìn kỹ đi! Đó là xác của Thầy chứ của ai!’

Triết lý nằm ở đây! Nếu ta quyết định xuống thuyền Bát Nhã, sắc uẩn của ta phải rớt trước tiên. Nói cách khác, khi đã chấp nhận đi vào pháp của Phật, chúng ta phải thực tập thấy thân này không phải là ‘ta’, là ‘của ta’, chỉ là phần ngoại vi vay mượn.Coi nhẹ được xác thân nhiều chừng nào, chúng ta bớt đi nỗi khổ nhiều chừng ấy. Thân này già yếu ư? Có gì đáng phiền muộn vì trên đời này có thân nào vĩnh viễn khoẻ mạnh mãi đâu! Thân này chết ư? Có gì phải sợ vì có gì sinh mà không diệt!

Không chỉ thực tập trên thân mà còn phải thực tập trên ý nghĩ và cảm thọ.  Buồn giận, ghét thương, ưu tư phiền muộn, thất vọng khổ đau, dường như ai cũng có. Thế nhưng ai có tâm thức đủ mạnh, có ý lực đủ vững, người ấy lướt qua những khổ thọ ấy rất dễ vì hiểu rõ chu kỳ tự hoại, đến đi sinh diệt của các cảm thọ ấy. Và cũng vậy, xả ly được những ý nghĩ đang huyên thuyên không dừng trong ta, không đồng nhất mình vào nó, nhận diện nó như chính bản thân nó tự sinh tự diệt như bao hiên tượng sinh lý, tâm lý khác ta sẽ buông xuống hết những khổ não bất hạnh của cuộc sống này do ý nghĩ ta dệt nên. Ví dụ chúng ta có một thói quen thấy mọi cảm xúc đều là mình.  Buồn là mình, vui cũng là mình, lo âu phiền muộn là mình, bất an sầu khổ cũng là mình. Nếu như nỗi bất an quá lớn, chúng ta dễ dàng không chấp nhận đời sống này, dẫn đến việc hủy hoại đời mình một cách oan uổng như tự sát chẳng hạn. Chuyện này xảy ra ngay cả những người có tiền tài, danh vọng, vàđược nhiều người thương. Nếu hiểu được một chút đạo lý Bát nhã, họ sẽ thấy tự thân mình không phải là những xúc cảm. Họ có thể lặng lẽ quan sát những xúc cảm đến đi sinh diệt, đều không thật, đều rỗng không, họ cũng làm như vậy với mọi ý nghĩ đang sinh sinh diệt diệt, hẳn nhiên lúc ấy sẽ không có một ý nghĩ nào dắt dẫn xúc xiểm họ chán sống; đây là con đường thiền tập để họ tự cứu được chính mình. 

Tóm lại, bài học bước xuống thuyền Bát Nhã trong truyện Tây Du Ký là sẽ có lúc chúng ta phải bước xuống chiếc thuyền ‘Không’, nghĩa là ‘thuyền không đáy’.  Đừng quên xả ly chấp trước ý nghĩ, cảm thọ là ‘ta’, ‘của ta’, như vậy mới đạt được ít nhiều năng lực trí tuệ, dùng trí tuệ để làm đời sống mình thăng hoa, giúp mình và người chứng nghiệm được an lạc giải thoát!

Pháp môn thiên về Bi

Cũngtrong buổi ‘Vấn đáp Phật pháp’ tại chùa Văn Thù, có Phật tử hỏi tôi:  ‘Ngài Chuẩn Đề là ai và bài chú Chuẩn Đề có tác dụng gì khi trì chú này?’Theo như tôi biết, các vị Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Thế Chí kỳ thực không có trong dòng lịch sử chính của Phật giáo như các ngài Xá Lợi Phất, Mục KiềnLiên, A Nan, A Nạ Lâu Đà v.v.. Hình ảnh các vị Bồ Tát chỉ có mặt 100 năm sau khi Thế Tôn nhập Niết bàn. 

Sở dĩ các vị Bồ Tát xuất hiện từ trong kinh văn rồi bước ra cuộc đời thật là để phù hợp với văn hoá đa Thần, thích thờ kính lễ lạy để cầu phước của người dân Trung Hoa.  Về sau, hình ảnh các Ngài lan truyền sang Việt Nam, Hàn quốc, Nhật bản v.v.. và trở thành nét truyền thống rất đậm trong Phật giáo ở các quốc gia Phương Đông. Tuy nhiên, có thể giải thích sự có mặt của các Ngài chính là biến tướng của các vị Thanh Văn đệ tử Phật, làm mảnh ruộng tốt giúp chúng sinh tu tạo phước điền và gieo chủng nhân tu tập trí tuệ. Ví dụ Ngài Đại Trí Văn Thù Sư Lợi là biến tướng của Ngài Xá Lợi Phất, cảhai cùng có nguồn gốc từ Đại Trí.

Cũng vậy, Ngài Chuẩn Đề không có thật, chỉ là hình tượng được tạo nên từ dòng chảy thờ phụng cúng kiếng. Chú Chuẩn Đề cũng không xuất hiện trong Kinh văn Phật. 

Tuy nhiên, nhờ niềm tin đã hình thành từ lâu đời đối với Ngài mà việc trì chú Chuẩn Đề có một sự linh ứng, uy lực nhất định. Hơn nữa, khi trì chú, định lực phát sinh, do vậy trấn an được những nỗi sợ. Ví dụ có người hay sợ ma làm giấc ngủ bất an, nếu có công phu trì chú sẽ có vượt thoát được cơn sợ hãi. 

Điều cần bàn ở đây là công phu trì tụng đều đem lại định lực cho người trì tụng.  Lấy ví dụ trường hợp các ông thầy mo trì chú để trừ tà hay chữa cho bệnh nhân hết ấm đầu, sổ mũi v.vv. Chẳng qua khi trì chú, các ông tất nhiên làm phát sinh được năng lực định. Bên cạnh

năng lực định, chính niềm tin các ông và của người bệnh phổ thêm vào câu chú giúp khiến các ôngcó được năng lực trị bệnh. Trung thực mà nói khả năng chữa lành bệnh hay vượt qua tai nạn chính nhờ năng lực và niềm tin mãnh liệt của chúng ta mà thôi.

Bài học cần ghi nhớ ở đây là bản thân của Thần chú có năng lực hộ niệm ta hay không tùy vào sự định tâm và sức mạnh của niệm ta phổ vào. Tuy nhiên, chúng ta không thể thành đạt trí tuệ, chứng nghiệm giải thoát nếu chỉ dừng lại trong công trình trì chú và thầm tụng Phật hiệu. Đệ tử Phật phải đi vào các pháp hành phát triển trí tuệ như Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ để đoạn phiền não chứng nghiệm an lạc.

Hãy hân thưởng việc quét nhà của bạn !

‘Ngồi thiền sao cho tâm tịnh?’ là một câu hỏi tôi phải trả lời trong buổi ‘Vấn đáp Phật pháp’ tại chùa Văn Thù. Phần trả lời ngắn gọn của tôi bắt đầu bằng một lời nhận định về tâm trong quá trình ngồi thiền, kế đến giới thiệu ba pháp môn tu, kể thêm một mẩu truyện liên quan đến thiền tập áp dụngvào công việc hằng ngày, và kết thúc bằng một lời khuyên cũng liên quan đến việc hành thiền.

Theo nhận định của tôi. ‘Tâm’ trong quá trình ngồi thiền đòi hỏi phải thực tập rất lâu mới yên được. Chớ nên nôn nóng, mong ngồi thiền làm sao cho tâm mau an tịnh. Xưa nay tâm của mình vẫn có thói quen chạy đông chạy tây.  Mình có ngồi thiền trong một ngày tu, một tuần tu, hay một tháng tu chưa chắc gì tâm đã an tịnh được. 

Và để thực tập sao cho tâm được tịnh, đối với Phật tử sơ cơ, hoặc Phật tử theo Tịnh Độ Tông, tôi gợi ý cách thứ nhất là vẫn giữ pháp môn ‘Niệm Phật’ truyền thống, nhưng phối hợp thêm với hơi thở. Tôi giải thích chi tiết hơn: ‘Thay vì miệng niệm Nam mô A Di Đà Phật liên tục theo thói quen, quý vị hãythực tập niệm Phật thật chắc, nhịp nhàng với hơi thở vào ra.  Ví dụ khi hít vào, quý vị niệm Nam mô, thở ra niệm A Di Đà Phật. Kiên trì làm như vậy cho đến khi tâm thuần. Bước kế tiếp quý vị không cần niệm Nam mô A Di Đà Phật nữa mà chỉ nhận biết hơi thở. Điều cần nhấn mạnh ở đây là ‘nhận biết’ mà không ‘suy nghĩ’ về hơi thở. Nói cách khác, hãy xem ‘Ta’ và ‘Hơi thở’ là một, nghĩa là hít vào, nhận biết tỏ tường hơi thở đang đi vào, và thở ra, nhận biết tỏ tường hơi thở đang đi ra. Tôi nghĩ chỉ cần thực tập đơn giản vậy thôi cũng đủ làm tâm của quý vị an tịnh hơn.’

Pháp môn thứ hai tôi gợi ý là pháp môn ‘Thiền toạ’. Tôi vẫn thường khuyên những ai thực tập Thiền toạ nên tập ngồi thế kiết già vì đây là thế ngồi vững chắc nhất. Với thế ngồi kiết già, cho dù công phu thiền toạ có thể kéo dài lâu mấy đi nữa, toàn thân mình vẫn không bị nghiêng ngả. Đó là nói về thế ngồi.  Nói về thời gian ngồi, thông thường nếu thực tập thiền toạ trong 30 phút mà tâm thức vẫn loạn, mình dễ sinh chán. Do vậy thay vì ngồi lâu, chỉ nên ngồi 10 phút thôi, làm vậy sẽ giúp tâm mình không hoảng sợ mỗi khi nghĩ đến giờ toạ thiền.  Trong 10 phút đó, bước đầu cũng niệm Phật từng câu thật chắc theo với hơi thở vào ra. Bước kế không niệm Phật nữa mà nhận biết tỏ tường ‘Ta và hơi thở là một’. Chỉ 10 phút thôi, sau đó xả thiền, đi loanh quanh, thư giãn. Phải làm thế nào để sự thực tập của mình đầy cảm hứng, khiến mình trông mong đến giờ thiền toạ. Cứ thế chầm chậm huấn luyện mình cho đến khi thói quen của niềm đam mê tu có mặt.

Tôi đề nghị thêm một pháp môn thứ ba là ‘Thiền hành’.  Thông thường thân ngồi yên, tâm dễ động. Vì thế với pháp môn đi bộ, thân động nên tâm sẽ dễ yên hơn. Cũng như hai pháp môn trước, thoạt đầu cũng niệm Phật theo từng bước chân đi. Ví dụ bước thứ nhất niệm Nam mô, bước thứ hai niệm A Di Đà Phật. Khi tâm đã thuần thục,không cần niệm Phật nữa, chỉ nhận biết hơi thở vào ra theo từng bước chân, hít vào bước một bước, thở ra bước một bước.

Đó là ba pháp môn tu nhưng không hề mang tính Tôn giáo, có thể thực tập được mọi lúc mọi nơi, và mang lại niềm hỷ lạc cho đời sống. Bản thân tôi, nhờ thiền tập, tôi không đốt năng lượng của mình vào chuyện suy nghĩ vẩn vơ. Nhờ vậy, tôi có được tâm yên bình, từ đó tôi làm được việc trong trạng thái tươi vui, không làm với sự buồn chán.  

Ai cũng biết tôi bận nhiều việc, đi dạy học cùng nơi khắp chốn.  Nhưng nếu có dịp được cầm chổi quét thiền đường, tôi làm ngay. Đối với tôi, đó cũng là lúc để thiền tập. Có đứađệ tử thổ lộ với tôi rằng ở nhà chị chẳng phải làm việc chi.  Bởi vậy thấy tôi thong thả quét thiền đường, chị ngạc nhiên lắm. Chị tâm sự thêm:‘Nhìn Thầy cẩn thận đưa từng nhát chổi trên mặt sàn, con chợt nhận ra lâu nay con lúc nào cũng chỉ mong chóng làm xong việc này để vội vã làm sang việc khác. Con đã để phí không biết bao năm tháng trôi qua. Con quyết định bắt chước Thầy.’ Thế rồi, mỗi lần đến thiền đường, chị ta thong thả sắp ngay ngắn từng đôi dép mọi người để ngổn ngang trước cửa dãy nhà vệ sinh. Chị khoe với tôi bây giờ mỗi khi nấu ăn, giặc quần áo, hay ngồi chơi với con gái của con v.vv làm gì con cũng thấy hạnh phúc. Tôi khen: ‘Con biết sống rồi đấy!’.

Trước khi kết thúc, tôi nhắc lại với Đại chúng: ‘Thiền tập có thể bắt đầu từ pháp môn niệm Phật phối hợp với hơi thở vào ra, kế đến không niệm Phật nữa, chỉ tập trung vào sự nhận biết về hơi thở, cho đến lúc có được khả năng an trú sự nhận biết trong mọi tư thế, mọi việc làm, mọi suy nghĩ v.vv. Hoa trái của công phu thiền tập ít nhất giúp hành giả hân thưởng được từng phút giây của đời sống, hân thưởng việc mình đang làm, hình hài khoẻ mạnh mình đang có, và nhất là xây dựng được hạnh phúc cho mái ấm gia đình, để ta và người ta thương sống một đời bên nhau không là sự chịu đựng nỗi bất hạnh’. 

Và tôi kết thúc phần trả lời của mình bằng một lời khuyên:

‘Hãy thử thực tậpđi. Hãy tập làm người biết sống đi !’

Thích Phước Tịnh

Phiên tả dựa vào buổi ‘Vấn Đáp Phật Pháp Cùng Với HT Thích Phước Tịnh & HT Thích Tâm Hạnh tại Chùa Văn Thù 2018

No comments yet.

Share Your Thought. Leave a Comment