Mẩu Truyện Phật Giáo

SINH DIỆT VÀ BẤT ĐỘNG

Tâm thức của chúng ta chưa bao giờ bằng lòng đời sống hiện tại, thường mơ ước đến một chân trời rất xa với không gian thoáng đãng. Người nông dân không hài lòng với mái nhà tranh bên lũy tre ao bèo, thường mơ ước có được một ngôi nhà gạch tại phố phường lao xao. Nhưng khi đã sở hữu một ngôi nhà lớn ngay ở thành thị sầm uất, lại mơ ước có được một lâu đài tráng lệ nguy nga. Ở tầm mức quốc gia cũng thế, một đất nước khi còn nghèo khó, cả người dân lẫn nhóm lãnh đạo quốc gia đều mơ ước đất nước mình có được nền kinh tế vững vàng.  Khi kinh tế phồn thịnh rồi, họ lại tham lam muốn mở rộng lãnh thổ, trở thành cường quốc trên thế giới.

Vậy mới thấy từ thân phận của con người nhỏ nhoi đến lĩnh vực của quốc gia rộng lớn, tâm thức chúng ta bao giờ cũng mơ ước vươn ra khỏi thân phận hiện tại, thật giống như tâm trạng của con hổ trong bài thơ “Nhớ Rừng” của Thế Lữ, hổ mơ phá tung được cũi sắt trở về sống đời chúa tể oai phong nơi rừng thẳm:

Với khi thét khúc trường ca dữ dội 
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, 
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, 
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc. 
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc 
Là khiến cho mọi vật đều im hơi. 
Ta biết ta chúa tể của muôn loài 
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi. 

Làm sao cho cọp thoát khỏi cũi sắt, trở về chốn rừng thiêng,dương mắt thần làm muông thú kinh khiếp? Làm sao để linh hồn bé nhỏ của chúngta đang bị giam hãm trong hình hài tứ đại vượt thoát khỏi thân phận đang bị già bệnh bất an xiềng xích? Làm sao chúng ta có thể chấm dứt con đường loanh quanh, vượt thoát thân phận tử sinh của một kiếp người? 

Con đường loanh quanh

Đã là người, chúng ta luôn khát khao tìm được con đường vượt thoát khỏi sự tù hãm. Thế nhưng thông thường chúng ta chỉ đi trên con đườngloanh quanh. Có khi chúng ta chọn đi loanh quanh trên con đường hướng ngoại, muốn sở hữu thêm của cải, thủ đắc thêm công danh. Buồn thay, chúng ta chẳng bao giờ hài lòng với những gì mình đã có. Con đường loanh quanh hướng ngoại chỉ tạm dừng khi chúng ta trút hơi thở cuối cùng về với các bụi. Do ý thức đã gieo trong kiếp này, đến kiếp sau chúng ta lại tiếp tục đi loanh quanh, lại học đòi buồn giận ghét thương, lại học yêu đương giữa trần thế và không ngừng tham lợi tham danh.

Tuy nhiên, một số trong chúng ta, khi đắng cay đã có, hạnh phúc đã từng, cảm thấy mệt mỏi với những hoạt động hướng ngoại, bắt đầu biết hướng nội. Thử hỏi con đường hướng nội có còn loanh quanh không? Nếu chọn con đường hướng nội ở tầng cạn, chúng ta sẽ năng nổ không ngừng làm giàu kho tàng kiến thức. Tuy nhiên, đến một lúc nào hệ thần kinh não của chúng ta mệt mỏi sẽ không chịu tiếp thu thêm kiến thức nữa. Rồi đến cuối đời, ta vẫn hoảng loạn khi cái chết gần kề, lòng vẫn ngổn ngang bộn bề trăm mối. Như vậy, con đường hướng nội ở tầng cạn cũng vẫn chỉ là con đường loanh quanh, không giúp được chúng ta thoát khỏi thân phận tử sinh của một kiếp sống.

Nhìn sang con đường hướng nội ở tầng trung bình, còn được gọi là con đường tu tập. Nếu tu tập mà không hiểu đạo lý, lấy ý thức sinh diệt làm nền tảng, chúng ta rơi vào tình trạng nắm bắt điều này, buông bỏ điều kia, toan tính điều nọ, nóng nảy mong chứng đắcđược quả vị trên bước đường tu tập. Tu tập như vậy cũng chỉ là đi trên con đường loanh quanh, chưa thể gọi là siêu việt, vẫn phải trở lại với ba cõi sáu đường.

Con đường vượt thoát

Chúng ta sẽ được tiếp xúc với con đường hướng nội ở tầng thâm sâu nhất nếu có duyên may học thẳngvào Chánh pháp của Thế Tôn. Đây là con đường gồm bốn tầng thiền chế định, giúpchúng ta vượt thoát khỏi sự giam cầm của đời sống chấp trước vào năm uẩn, chấm dứt kiểu đi loanh quanh. Và thế nào là bốn? Tầng đầu tiên là ly sanh hỷ lạc, tầng thứ hai là định sanh hỷ lạc, tầng thứ ba là ly hỷ diệu lạc,và tầng thứ tư là xả niệm thanh tịnh

Ly ở tầng đầu có nghĩa rời bỏ tất cả con đường hướng ngoại của trần thế, xả ly tất cảtham đắm thô phù của kiếp sống như của cải, lợi danh. Ly những thứ bên ngoài vẫn chưa đủ, còn phải ly cả những phần cố chấp về bản ngã bên trong tâm thức. Khi đã xa rờihết những thứ không thật – nhờ duyên có, hết duyên mất – niềm vui bắt đầu có mặt.Lúc này được gọi là ly sanh hỷ lạc. Tuy nhiên, đây vẫn là phần rất cạn do vì loại niềm vui có được vẫn còn sinh còndiệt.

Định ở tầngthứ hai giúp tâm an bình phẳng lặng, được không mừng, mất không vui, không còn những cảm thọ xôn xao lễ hội. Lúc này được gọi là định sanh hỷ lạc.  Tuy nhiên,ở tầng này, niềm vui vẫn chưa thật tinh tế. 

Đến tầng thứ ba ly hỷ diệu lạc, rời được niềm vui xôn xao lễ hội, có được niềm vui vi tế thầm lặng, diệu lạc, rất mịn màng trong tâm, lòng cảm thấy tràn đầy mãn nguyện với niềm vui tinh tế từ định phát sinh.

Thế rồi đạt đến tầng thứ tư, niềm vui tinh tế cũng được xảly.  Lòng bỗng nhiên rỗng lặng và sáng bừng như bầu trời không có một chút mây. Trạng thái này được gọi là xả niệm thanh tịnh. Một khi chứng nghiệm được tầng thiền thứ tư, chúng ta trở về trạng thái bản nguyên, hoàn toàn chấm dứt con đường loanh quanh.

Thế nhưng nếu thân tâm không khoẻ mạnh, chúng ta không thể đi trọn con đường hướng nội thâm sâu này. Việc cần làm là phải rèn luyện và nuôi dưỡng sao cho thân khoẻ, tâm an. Trước khi bắt tay vào việc rèn luyện thân tâm,có hai điều quan trọng liên quan đến thân và tâm chúng ta phải nhận diện cho được. 

Thứ nhất, phải nhận diện cho được sự giả tạo của những nỗi khổ đang dày xéo tâm thức chúng ta. Đã mang thân phận loài người, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng nỗi khổ nào cũng thật. Trên thực tế, những nỗi đau của vết thương đến với thân mới thật, còn những nỗi khổ đến tâm không thật bao giờ.

Thứ hai, cần nhận diện cho được sự liên hệ mật thiết giữa thân và tâm. Có nhiều trường hợp nhờ thân khoẻ nên tâm ít bệnh và ngược lại, nhờ có tâm khoẻ, thân dù bệnh cũng mau bình phục. Lại có những trường hợp khitâm cảm nghiệm nỗi đau, tâm liền tác động thân, làm thân đau theo, thậm chí có những trường hợp thân kiên cường như tạc từ đá hoa cương nhưng cũng đổ sập khi tâm ốm yếu tật bệnh. Ngược lại, cũng không ít trường hợp thân đau thật, nhưng nhờ tâm đủ mạnh, tâmlàm nỗi đau nơi thân nhanh chóng biến mất. Nhận diện được sự giả tạo của nỗi khổ nơi tâm, và mối liên hệ của thân tâm được rồi, chúng ta bàn tiếp đến các phương pháp rèn thân, dưỡng tâm.

Lạy Phật có thể được dùng như phương pháp rèn luyện thân. Thong dong mỗi ngày lạy năm mươi, một trăm lạy giúp cơ thể ngày càng nhẹ, càng dẻo. Hệ tuần hoàn mạch máu nhờ sinh hoạt lạy sám hối cũng hoạt động ngày càng điều hoà hơn, hoặc bệnh hoạn nhức mỏi thấp khớp biến mất hồi nào không hay. Đi bộ hoặc chạy bộ cũng mang lại lợi ích tương tự như phương pháp lạy Phật. Ngoài ra, thở là một phương pháp hữu hiệu khác có thể dùng để rèn luyện thân. Trong truyền thống Nam truyền có những bài tập thở, dạy chúng ta đặt tay nơi vùng bụng, ý thức tỏ tường hơi thở vào ra. Chúng ta có thể tự tập thở trong sở làm, dùng dăm ba phút ngồi thư giãn,cảm nhận trọn vẹn hơi thở phồng và xẹp. Rất cần thực tập thở trong chánh niệm để dần dần có được thói quen sống trong chánh niệm. Thực tập chánh niệm ít nhất trong ba hơi mỗi lần cũng tạm đủđể rèn luyện thân khoẻ, giúp bản thân có thể đi xa trên con đường tu tập. 

Nuôi dưỡng tâm càng quan trọng không kém. Tâm gồm hai tầng,tầng đầu là tâm sinh diệt, và tầng thứ hai là tâm bất động. Tâm sinh diệt lại có hai phần, phần cảm tínhphần tri thức. Theo quan niệm của một sốnhà tu tập, chúng ta nên triệt tiêu tầng tâm sinh diệt, chỉ nên an trú nơi tầng  tâm bất động. Trên thực tế, cả hai tầng tâm này không thể rời nhau. Sinh diệt và bất sinh diệt, hoặc lay động và bất động, cả hai như hai mặt của một đồng tiền.

Phần cảm tính của tâm sinh diệt cần được nuôi dưỡng bằng thiện niệm, bằng tình cảm tốt lành, bằng tâm thức thăng hoa. Nếu được nuôi dưỡng bằng những thức ăn lành thiện trên, chẳng những tâm hân hoan dạt dào, mà từng tế bào trong thâncũng reo vui. Nhiều hơn thế nữa, nếu bản thân ta an vui, những người thân của ta, những bằng hữu, và những người có cùng cung bậc quanh ta cũng được an vui. Từ đó mọi người cùng sống hòa điệu trong tinh thần tương thân tương ái, niềm vui được mở rộng theo cấp số nhân.

Phần tri thức của tâm sinh diệt cần được chăm sóc bằng cách tạo cho bản thân nhiều cơ hội tiếp xúc với nền văn hóa, học thuật nhân văn. Tri thức càng được mở rộng, nâng cao, và được định hướng đạo đức, chúng ta càng hạnh phúc và phẩm giá càng cao quý, thưởng lãm đời sống phúc lạc ngang tầm với tri thức đạo đức của ta thành đạt. Trong đời sống Đạo, việc nuôi dưỡng tri thức của tâm sinh diệt trên bình diện học hiểu chánh pháp không có điểm dừng. Càng đi sâu vào giáo lý đức Phật bao nhiêu, tâm thức của chúng ta càng thoáng đảng, mênh mông bấy nhiêu. Với trình độ tâm thức được mở rộng như thế, khả năng tu tậpchuyển hóa xảy ra rất dễ dàng. Vì thế chúng ta không nên cho phép mình dừng lạiviệc mở rộng tầng sâu và chiều cao tri thức học Phật của tâm sinh diệt.

Con đường tự nhiên

Trong những phương pháp nuôi dưỡng phần tâm sinh diệt, chúngta còn phải tác động đôi chút. Nhưng trong phương pháp nuôi dưỡng tâm bất sinhdiệt, còn gọi là tâm bất động, chúng ta chẳng cần làm gì, chỉ cần đặt chân trên con đường tự nhiên. Sở dĩ gọi là tự nhiên do vì chỉ cần để mình tự nhiên rơi vào vùng năng lực giác ngộ. Trạng thái rỗng lặng tịch tĩnh này còn được gọi là “cái biết” sẵn có trong ta, vốn đang tự nhiên chiếu sáng, chẳng cầnphải tìm cầu nơi đâu để có. Tuynhiên, điều này không dễ xảy ra với đa số chúng ta mà chỉ có thể bất ngờ xảy đếncho rất ít người có trình độ sống thâm sâu và tâm thức đã chuẩn bị sẳn sàng mới thể nghiệm tâm bất sinh trong một sát na thời gian hạn hữu. 

Có cách thể nghiệm có thể mở cửa cho chúng ta được. Hãy thử hai phương pháp nuôi dưỡng tâm bấtđộng bằng cách làm quen với ánh sáng. Cách thứ nhất: Hãy nhắm mắt lại để nhìnvào tự nội. Thoạt đầu chỉ một màu tối đen, nhưng dần dần ta thấy được buồn giận ghét thương xuất hiện trong vùng tâm thức. Tiếp đến, những câu chữ bên trong tâm vừa sinh khởi, chúng ta cũng nhận ra ngay. Thực tập như vậy lâu bền, chúng ta sẽ nhậnra những tầng cảm thọ và vọng thức trôi ngang ngày càng ít và biến mất. Bấy giờ chỉ còn lại một trạng thái tâm nhận biết vô niệmmà thôi. Đây làcách thể nghiệm đầu.

Cách thứ hai: Nhắm mắt trong chốc lát, thong thả mở mắt ra, cái biết liền xuất hiện, bừng sáng, không một tiếng nói thì thầm sinh khởi bên trong. Cái biết là dạng năng lực nhận  biết vô ngôn có mặt ngay trong sát na đầu tiên. Nếu kéo dài năng lượng nhận biếtnày một phút, chúng ta sống trong tâm bất động được một phút. Nếu kéo dài một tiếng, chúng ta an trú trong lẽ thực được một tiếng. Nếu kéo dài được một ngày,chúng ta “làm Phật” được một ngày. Thế nhưng, đừng hiểu lầm rằng nhắm mắt hay mở mắt cái biết mới xuất hiện. Kỳ thực, chưa lúc nào năng lực nhận biết vô  ngôn này vắng mặt nơi chúng ta, chúng ta cố tình quay lưng chối bỏ đó thôi! 

Chỉ cần thực tập hai pháp hành này, chúng ta không còn suy nghĩ vẩn vơ, không ưu tư phiền muộn, không đồng hoá mình với nghiệp thức tạo thành từ những phiền muộn trong quá khứ, từ những nỗi lo cho tương lai. Chúng ta sẽ không còn chìm nổi trong ba cõi sáu đường, không đi loanh quanh trong đờinày và nhiều đời khác nữa.

Tóm lại, con đường tự nhiên, đối với người có căn cơ cao, chỉ  trong một tróc tay liền thể ngộ, sống được với thể tâm không sinh không diệt, mọi tâm hành buồn, giận, ghét thương, suy nghĩ thầm thì không có chỗ để có mặt. Ngay lúc ấy chúng ta rớt vào vùng trời bất động của tâm, gói gọn trong cái biết. Ngay lúc ấy chúng ta là Phật, sống với năng lực tuệ tri, với nhiều tên gọi khác của thể Niết Bàn.

Hãy nhớ rằng giác ngộ là bản chất thật của chúng ta. Khi thành đạo, Thế Tôn đã nói rằng Ngài vô cùng kinh ngạc khi thấy mọi loài chúng sinh đều có đức tướng trí tuệ của Như Lai, đều là Phật đã thành. Ai thông minh sẽ biết nương vào lời nhận định này mà làm bật sáng năng lực cái biết vô niệm sẵn có trong ta.

Con đường tâm linh

Chúng ta đang đi loanh quanh trên con đường đời, có điểm khởi  đầu và điểm kết thúc. Đoạn giữa con đường, nếu may mắn chúng ta có cơ hội làm người nhà giàu hoặc làm người có quyền uy. Nhưng đến cuối đường, danh vị chức tước, uy quyềncũng tuột khỏi tầm tay. Chính vì thế, các bậc Giác ngộ có mặt trong cuộc đời đều mở con đường tâm linh, mời gọi chúng sinhbước vào để thực tập những pháp hành đơn giản nhưng có ngay hạnh phúc ở tầng cạn, và sống được trong tâm Phật vô sinh bất động ở tầng sâu.

Niệm Thân Hành là một trong những pháp hành đơn giản khi bước vào con đường tâm linh của truyền thốngĐạo phật. Đi đâu, làm gì chúng ta cũng niệm thân hành được cả. Ngồi ta nhận biết trọn vẹn mình đang ngồi, đứng nhận biết trọn vẹn mình đang đứng, quét nhà, nấu cơm, cười với bạn đồng nghiệp, nói chuyện với ngườithân v.v.. nhất cử nhất động trong giây phút hiện tại chúng ta đều ý thức sáng tỏ vô niệm được, ấy là niệm thân hành, còn pháp thực hành nào dễ hơn!

Khi thực tập niệm thân hành đã thuần, bên ngoài chúng ta đi đứng oai nghi, nói năng chững chạc, xử sự đằm thắm, dễ dàng được mọi người quý trọng. Bên trong, phiền não bất an lo âu khó xâm nhập, năng lực tâm không bị hao phí cho sự buồn chán ủ ê, không lôi người chung quanh cùng chìm vào nỗi phiền muộn của mình và cũng không bị người chung quanh tác động hay ném sầu khổ vào ta.Đó là phần hoa trái gặt hái được nhờ thực tập niệm thân hành.  Nhưng lợi ích lớn nhất của niệm thân hành là chúng ta có được năng lực của định và tuệ, bản thân luôn an trú trong tâm bất động, sống được với thể Niết bàn tự hữu.

Chúng ta đi trong trần thế lâu nay đã đắm mình trong những trò đùa của phiền não, khổ đau trong 50, 70 năm trần đời, rồi trả hình hài về cát bụi, dòng nghiệp thức tiếp tục đi, thọ lại một hình hài khác. Mọi việc trải qua hà sa kiếp, dù ở đỉnh cao của các vị thiên đế hay nơi ở là những chốn thấp  nhất của xã hội, chỉ là trò đùa trôi theo chuỗi thời gian.

Chuyện tu cũng vậy, chỉ là chuyện chơi đùa, không gì là nghiêm trọng. Tại sao gọi tu tập cũng là trò đùa? Đây là bước đường đưa chúng ta trở về bản nguyên thật của chính mình. Bản chất thật của chúng ta vốn là vô ngã, không dính phiền não khổ đau, hay bất cứ thứ gì trên thế gian. Vậy chẳng phải mọi việc chỉ là trò đùa trong cuộc tử sinh ư? Nếu coi việc tu là chuyện chơi đùa chỉ để trở lại nơi ta từng đã ở, thế thì công phu hành trì sẽ không cứng ngắc, mọi việc làm Phật sự từ cách suy nghĩ này cũng nhẹ nhàng, tùy duyên mà làm.

Trong một thời toạ thiền cũng thế, nếu biết ngồi buông thư, thanh thản dõi theo sự sinh diệt của dòng tâm thức, công phu hành trình có hiệu quả cao. Nếu ngồi thiền mà ưỡn ngực, gồng vai, trấn ngự tâm hành, cách ngồi ấy không đúng pháp, phí phạm nhiều năng lượng. Ngồi thiền phải buông lỏng cả thân lẫn tâm, buông lỏng đến một lúc không còn gì để buông lỏng, chỉ còn lại trạngthái nhận biết hiện tiền sáng rỡ. Ấy gọi là sự thực tập thành công!

Kết luận

Đến đây chúng ta hãy điểm lại ba con đường, tuy đi khác hướng nhưng đến cùng một đích. Con đường thứ nhất là con đường tình cảm, là con đường làm từ thiện, trải lòng thương, rất hợp với người nữ.  Đây cũng là con đường các vị Đạo sư khai mở tâm linh bằng phương pháp từ bi, yêu thương, quên bảnngã. Những ai đi con đường này, ngay từ đầu đã thấy được thân phận mình vốn nhỏ nhoi, sẵn sàng hiến thân phụng sự nhân thế dưới sự dìu dắt của một vị Thầy hay một đấng giáo chủ.  Ở cuối chặng đường, bản ngã hoàn toàn rơi rụng.

Con đường thứ hai là con đường ý chí.  Đây là con đường thường thích hợp với người nam, dành cho những ai có tâm thức rất mạnh, sẵn lòng trải ngang qua đoạn đường gian truân, quyết lòng đạt đến đỉnh cao của sự thành đạt để cảm nghiệm được bản chất của tự thân ta vốn vô ngã.  Điểm đến đoạn cuối của chặng đường là một không gian bát ngát, không sắc màu, không khổ đau, rỗng lặng, tịch nhiên. Ở cuối chặng đường, bản ngã cũng hoàn toàn rơi rụng.

Con đường thứ ba là con đường buông rơi tự nhiên. Đây là con đường dễ nhất nhưng cũng khó cho chúng ta nhất. Chỉ trong một sát na thể nghiệm bản lai tâm vốn vô ngã và gói trọn thân tâm hiện tiền ném thẳng vào hư vô rỗng sáng tràn ngập ánh quang minh pháp tánh. Tuy nhiên, người xưa bảo: “Có gọi thì đò tới! Có gõ thì cửa mở!”, chúng ta hãy khởi phát niềm đam mê tu tập đủ mạnh, sống với chánh niệm rỡ ràng từng sát na và khi năng lực tu đủ đầy, cánh cửa Chánh pháp tự nhiên mở bung để bản thân bước vào  khám phá vùng không gian thâm sâu rất yên bình, nơi năng lực giác ngộ vốn luôn chiếu sáng tự bao giờ.

Một khi đã bước vào bất kỳ một trong ba con đường này, nếu có công phu hành trì nghiêm mật và có lực dụng, chúng ta ắt nếm được hương vị chánh pháp, thấy đời sống có giá trị từ đây. Phải luôn nhớ rằng khi nhận ra con đường thực tập, chúng ta vẫn chưa sống được hoàn toàn với Chánh pháp.  Phải thực tập mới cảm nghiệm được thế nào trạng thái an trú nơi tâm bất động!

Trở lại với bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ đã nhắc ở ban đầu, câu “Trong hang tối mắt thần khi đã quắc”, nếu ứng dụng trong sinh hoạt tu tập sẽ được giải thích như sau: “Nếu mắt thần của chúa sơn lâm trong hang tối làm mọi loài thú đều khiếp phục, mắt tuệ giác củachúng ta, do không có nhu cầu cần ánh sáng, trong bóng tối vô minh dù khép hay mở đều nhìn thấy mọi tâm hành sinh khởi, uy phong quét sạch hết phiền não bời bời.”

Hãy luôn mở đôi mắt thần của mình, sắc bén như lưỡi kiếm trí tuệ, quyết không để ma vương quấy phá trên con đường vượt thoát!

Thích Phước Tịnh

Phiên tả dựa vào loạt bài pháp thoại “Sinh Diệt và Bất Động”

No comments yet.

Share Your Thought. Leave a Comment