Mẩu Truyện Phật Giáo

QUÁN CHIẾU CÁC PHÁP VÔ THƯỜNG

Lâu dài cũng chấm dứt
Cao sang cũng sa cơ
Hội hợp để chia tay
Sinh ra để tử biệt.

Thích Phước Tịnh
dịch từ Kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Đây là bài kệ thứ tám trong Kinh Pháp Cú thuộc phẩm Quán Chiếu Vô Thường. Ngắn gọn với hai mươi chữ, Phật dạy chúng ta về những chân lý chắc thực của đời sống con người. Thật vậy: “Lâu dài cũng chấm dứt”, – có gì đến mà không đi?“Cao sang cũng sa cơ”– có mấy ai giàu ba họ? “Hội hợp để chia tay” – có cuộc gặp gỡ nào mà không phải chia tay?, và “Sinh ra để tử biệt” – có ai sau khi được sinh ra mà không đi dần về cõi chết?

Nếu biết dùng năng lực quan sát để nhận diện những chân lý tuy đơn giản, không huyền bí nhưng rất quan trọng ấy,chúng ta không những bỏ được nỗi sợ về tật bệnh, khó khăn, buồn khổ, chết chóc, mà còn lấy đi được các tâm hành do chính mình tạo nên như kiêu ngạo, mặc cảm, thiếu tự tin v.v…Ngẫm cho cùng, chúng ta chưa thoát khổ khởi nguyên cũng vì tính chấp trước vào bản ngã mà ra.

Bản ngã và sắc thái văn hoá Đông-Tây

Văn hoá Đông phương tạo nên người Đông phương khiêm nhường, tên mình có khi không dám viết hoa. Sâu thẳm trong tâm thức, người Đông phương chưa có niềm tự hào nhất định về tự thân, vẫn luôn cần một nơi để tựa nương,ví dụ khi nhỏ tựa nương cha mẹ, lớn tựa nương người hôn phối, già tựa nương con cái. Chưa kể bản thân còn dựa vào một tôn giáo, một chủ thuyết, một vị Thầy để có được chút tự tin vào chính mình. Tóm lại, văn hoá Đông phương không giúp được người Đông phương tự đứng trên đôi chân của mình, chịu trách nhiệm về niềm đau, nỗi buồn của chính mình. Nếu đi vào con đường tâm linh, cá tính người Đông phương phần nhiều chưa đủ mạnh, chưa đủ trưởng thành để trong một tróc tay đoạn đứt chấp trước bản ngã ném cả thân tâm vào thể bất động hiện tiền của tự tánh Niết bàn. Đỉnh cao của đạo Phật là bỏ bản ngã, thế nhưng bản ngã của người Đông phương vẫn còn yếu đuối, hoặc có thể nói là chưa có, vậy lấy bản ngã đâu để buông bỏ.

Ngược lại, văn hoá Tây phương do xem trọng chủ nghĩa cá nhân đã tạo nên nhân cách người Tây phương rất có ý thức về bản ngã. Một thí dụ điển hình là trong tiếng Anh, chữ “tôi” (“I”) luôn được viết hoa một cách kiêu kỳ. Người Tây Phương khi nhỏ đã bị đẩy ra ngủ riêng, đến tuổi mười tám tự động rời khỏi tổ ấm của cha mẹ để bắt đầu cuộc đời tự lập. Vì thế niềm tin nơi tự thân và sự xác lập bản ngã đã sớm được hình thành. Với tính chất như thế, khi đến một trung tâm tu học, người Tây phương không coi trọng những nghi lễ truyền thống hay cúng bái, cũng không để hình ảnh cư sĩ hay nhà sư của một vị Thầy hướng dẫn tâm linh làm họ mất niềm tin nơi sự thực tập. Họ tự giác tập trung vào thiền tập khi được dẫn dắt hợp lý, nhất là vị ấy vận dụng được pháp hành từ dòng chảy Chánh pháp. Với họ, nếu thực tập thấy pháp hành thật sự hữu ích, họ ứng dụng ngay vào đời sống bản thân. Những hình ảnh trên cho thấy văn hoá Tây phương đã giúp người Tây phương đủ trưởng thành để đi vào con đường tâm linh.

Nhưng dù chịu ảnh hưởng của văn hoá Tây phương hay Đông phương, tất cả chúng ta nếu muốn nếm được hương vị của Pháp, đạt được trạng thái Niết bàn đều phải loại trừ được bản ngã. Thế nhưng để loại trừ bản ngã, đầu tiên hết chúng ta cần có một lớp vỏ bản ngã thực thụ.

Bản ngã là những câu chuyện kể về tôi

Cấu trúc của bản ngã được dệt thành từ vô vàn dữ liệu liên quan đến “quá khứ”và “tương lai”. Vậy bản ngã chẳng qua là “những câu chuyện kể về tôi”. Khi nghe một người tự hào về họ, chúng ta để ý một chút sẽ thấy họ dệt nên bao nhiêu thứ để tạo thành những lớp áo che chắn đời họ. Hãy thử hình dung khi toàn bộ kỷ niệm trong quá khứ bị xoá sạch, từ đó những toan tính trong tương lai tự xụp đổ, lại làm tắt ngấm những tiếng thì thầm huyên thuyên trong tâm thức, vậy còn đâu là bản ngã?

Phân tích như vậy để thấy bản chất và cấu trúc của bản ngã vốn không thật. Tùy vào trình độ tri thức của ta mà mảnh đời của ta được dệt ấy đẹp hay xấu. Tùy vào ý thức xác lập muốn được người khác thương tâm hay không mà ta sử dụng nhiều hay ít chất liệu khổ đau trong quá khứ khi ta diễn đạt về đời ta. Khi biết buông bỏ xuống hết những khả năng “thêu dệt” ấy, bản ngã sẽ mỏng đi, nỗi khổ vắng mặt. Chỉ với công phu tu tập quán chiếu, chúng ta mới đạt được tầng sâu này, không còn xem hình hài này là tôi, vui buồn này là tôi, suy nghĩ này là tôi. Đến đây được xem như đã phá vỡ chấp trước ít nhiều về bản ngã.

Bên cạnh đó, bản thân phải có ít nhiều trải nghiệm về những nỗi khổ do tính vô thường của vạn pháp tác động, ví dụ như “Tôi muốn được gần Thầy tôi mãi mãi, tại sao Thầy tôi lại ra đi?” hoặc “Qua một đêm thôi, tại sao tôi mất sạch tất cả tiền tài và danh vọng đã dày công tạo dựng từ bao lâu nay ?”. Từ đây chúng ta mới có được ý hướng mãnh liệt tìm cách loại trừ bản ngã để thoát khổ. Đích thực là vậy, chỉ những ai cảm thấy đau khi phải mang kè kè bên mình lớp bản ngã đang bị trăm ngàn nỗi khổ giằng xé mới hiểu tại sao cần phải phá vỡ bản ngã, và mới có đủ chất xúc tác để làm vỡ bản ngã.

Nói cách khác, giống như chú gà con còn nằm trong trứng, điều kiện cần và đủ để có thể làm vỡ vỏ trứng để bước ra ngoài là mỏ phải đủ nhọn mới phá vỡ lớp vỏ dầy bao phủ bên ngoài. Cũng vậy, khi chúng ta không còn hài lòng với màu sắc của ngũ trần, với những hạnh phúc phù du, đã biết kinh sợ về hố hư vô đang đợi chờ ta phía trước, chúng ta sẽ thiết tha tu tập phá vỡ bản ngã. Đây là quy luật tự nhiên để có đủ lực dụng đặt tay vào đời sống tâm linh, làm quen với Phật pháp, vững bước trên con đường hành trì Phật dạy. 

Con đường hành trì và giải ngộ

Con đường hành trì để chứng nghiệm giải thoát của Phật chế tác không dành riêng cho một số người có đặc quyền đặc lợi, cũng không phân biệt giữa người cư sĩ hay người xuất gia, người Đông phương hay người Tây phương. Tuy nhiên, chắc chắn đây là con đường chỉ dành cho những người có năng lực. Không phải chỉ người trẻ mới có năng lực, hoặc người xuất gia mới có năng lực. Những ai có niềm đam mê tu được gọi là người có năng lực.

Con đường hành trì hướng nội trong tu tập không giống con đường học thuật hướng ngoại ở thế gian. Điểm khác nhau ở chỗ con đường của học thuật hướng ngoại của thế gian là con đường “từ không thành có”. Con đường này được đánh giá theo lượng kiến thức được thu thập vào, ví dụ học sinh lớp hai có đẳng cấp cao hơn học sinh lớp mẫu giáo vì đã thu thập được nhiều kiến thức hơn. Ngược lại, con đường của hành trì hướng nội trong tu tập không có một đẳng cấp nào để bước vào, và ngày càng theo chiều hướng “từ có thành không”, vì thế trên đường tu, hành giả càng ngày càng thấy bản ngã cồng kềnh tan biến vào sự trống rỗng.

Con đường hành trì căn bản nhất là pháp Quán niệm hơi thở của Tứ Niệm Xứ. Tại các trung tâm thiền Vipassana, phần hành trì được chú trọng hơn phần lý giải. Vì vậy nếu đến học thiền ở các trung tâm này, chúng ta sẽ được hướng dẫn ngắn gọn những bài học căn bản như “Hít vào, tôi biết tôi hít vào. Thở ra, tôi biết tôi thở ra” v.v…, và được phép bước ngay vào thực tập. Chúng ta có thể miệt mài thực tập, nhưng động tác hít vào thở ra rất đơn điệu dễ gây chán. Hơn nữa tập vài hôm vẫn thấy buồn giận bất an còn đấy, càng không mường tượng được sẽ có thứ gì còn lại khi lớp bản ngã không thật tan biến. Chúng ta dễ trở nên hoang mang, niềm đam mê tu thuở ban đầu dễ bị nhạt nhoà vì không biết tập thở như thế này sẽ thành đạt được gì.

Để tránh tình trạng mất phương hướng trên con đường hành trì, chúng ta cần làm hai việc một  lúc, đó là vừa hành trì, vừa đọc và học lời Phật dạy qua Kinh văn Đại thừa và Nguyên Thuỷ, tham khảo thêm Thiền thoại và lịch sử tu chứng của các vị Thiền sư v.vv… Khi tham khảo Kinh điển, chúng ta sẽ thấy Thế Tôn không chỉ hướng dẫn pháp hành trì, mà Ngài còn lý giải với lời hùng mạnh như sấm sét để nhấn mạnh bản chất của Ngã vốn là không, để chúng ta thấy được đâu là đích đến của mình, và từ đó củng cố được niềm tin trên con đường hành trì. Cũng vì những lợi ích ấy, đọc và học Kinh Tạng Thánh Điển còn được gọi là “con đường giải ngộ”, giúp chúng ta không bị ngao ngán khi lần mò bước đi trên “con đường hành trì” rất dài.

Hãy đọc đoạn Kinh ngắn sau đây trong bài Kinh 149 “Có pháp môn nào?”, thuộc Tương Ưng Bộ Kinh.

[…]

Một thời Thế Tôn ở …

Ở đấy, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, tỳ kheo, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkaraparitakka), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthinshanakhanti), có thể xác chứng chánh trí. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nầy nữa”.

Ở đây, nầy các tỳ kheo, tỳ kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham sân si biết rõ: “Nội tâm ta có tham sân si”, hoặc nội tâm không có tham sân si biết rõ: “Nội tâm ta không có tham sân si.”

[…]

Trong đoạn Kinh trên, chúng ta hiểu được Thế Tôn dạy chúng ta loại trừ bản ngã bằng cách “nhìn”, “quan sát”, “nhận diện” ý hành tham, sân, si. Khi đã lý giải được như vậy, trước tiên chúng ta áp dụng bài học đó khi nhìn ra ngoài: Tôi“nhìn” thấy anh, tôi “quan sát” thấy tôi không phải là anh, và tôi “nhận diện” tôi là người nhìn anh và anh là đối tượng bị tôi nhìn. Kế tiếp, chúng ta áp dụng bài học khi nhìn vào trong: Tôi “nhìn” thấy kia là cảm thọ buồn vui vừa sinh khởi. Tôi “quan sát” thấy tôi không phải là niềm vui nỗi buồn ấy, và tôi “nhận diện” tôi là người nhìn cảm thọ buồn vui và cảm thọ buồn vui là đối tượng bị tôi nhìn.

Cũng vậy, chúng ta áp dụng cách lý giải ấy khi thực tập pháp Quán niệm hơi thở. Khi“nhìn”, “quan sát”, “nhận diện” hơi thở, chúng ta không phê bình phán xét, không trấn ngự phê bình, không sát phạt bạo động.Thực tập được vậy hồi lâu, chúng ta nhận diện được hơi thở vào ra không hề đơn điệu, có lúc dài, lúc ngắn, có lúc nhẹ, lúc mạnh v.v.. Quan trọng hơn hết, chúng ta nhận diện được sự sinh diệt trong từng hơi thở, từ đây học được bài học về vô thường, hiểu được hình hài, cảm thọ và suy nghĩ này chưa bao giờ “là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi”. Thế là bản ngã được loại trừ, và cũng có nghĩa chúng ta đã từng bước về đến đích.

Có thể xem đây là một ví dụ về cách dùng con đường giải ngộ (đọc Kinh và học Pháp) để hỗ trợ và củng cố con đường hành trì (phương pháp tập làm người quan sát).

Kết luận

Vì chán ngán trần gian khổ cực, bằng tâm thức mơ ước có một tương lai đúng ý hướng mình hơn, chúng ta thường tạo ra một thế giới xa xôi. Nơi đó không có chiến tranh, con người có tuổi thọ dài và tràn đầy niềm vui. Chính sự tưởng tượng của ta đã xây dựng một cảnh giới. Đạo Phật không hề vẽ vời một cảnh nào cho con người cầu xin về nơi ấy. Ngược lại, Thế Tôn dạy chúng ta bản chất tâm vốn vô ngã, nỗi khổ đích thực của chúng ta được sinh ra do vì chúng ta chấp trước ta là bản ngã, và do vậy, chúng ta phải khôn ngoan mau chóng cất bước vào con đường hành trì với sự hỗ trợ của giải ngộ để phá vỡ bản ngã.

Có hai trạng thái tâm thức giúp con người có khả năng phá vỡ bản ngã, một là bị nỗi khổ nhận chìm đến tận đáy, hai là không chấp nhận đời sống bị ảnh hưởng của định luật vô thường, sinh ra để chết đi, sinh động thế này rồi biến mất vào hố hư vô. Chỉ hai trạng thái tâm thức này mới giúp lửa khát vọng tu tập cháy bùng, giúp con người ta chạm tay vào Đạo lý, nếm được hương vị Chánh pháp qua các pháp thực tập quán chiếu của Phật dạy.

Phật dạy hãy hướng tâm vào trong, quán chiếu ngay chính tự thân, và dễ nhất là quán chiếu nơi hơi thở để thấy ngoài phần năm uẩn, cảm thọ, ý nghĩ sinh diệt đến đi, còn một năng lượng không sinh diệt, không đến đi, đang ẩn ngay đây. Đó là năng lực quán chiếu đã có sẵn trong chúng ta tự bao giờ. Nên nhớ rằng phải có niềm tin chắc thật vào giáo lý của Thế Tôn, có suy nghĩ sâu và lực tinh tấn cao trong công trình quán chiếu, chúng ta mới có đủ mãnh lực để làm thay đổi đời sống của chính mình. 

Thế Tôn đã chế tác rất nhiều pháp hành trì, việc còn lại của chúng ta là phải làm dậy sóng niềm đam mê tu tập, quyết tâm chấm dứt việc thêu dệt những câu chuyện về tôi, mạnh dạn bước vào đời sống tâm linh với sinh lực bừng bừng dành cho cả pháp học và pháp hành.

Thử hỏi chúng ta, dù là người già hay trẻ, người Đông phương hay người Tây phương, tại gia hay xuất gia, đã sẵn sàng bước vào công trình thực tập làm người quan sát để loại trừ được bản ngã, ít nhất thoát khỏi nỗi khổ về đến-đi, còn-mất, hợp-tan, sinh-diệt?

Thích Phước Tịnh

Phiên tả dựa theo pháp thoại ‘Kết Một Tràng Hoa – Phẩm Quán Chiếu Vô Thường 04

No comments yet.

Share Your Thought. Leave a Comment