Mẩu Truyện Phật Giáo

MỞ ĐÔI MẮT MỘNG

Dưới chân thủy các, nước đầy vơi,
Trầm ngâm thủy các,bóng ai ngồi.
Mây đổi hình hài hôm sớm đổi,
Sóng trôi cuồn cuộn cổ kim trôi.
Mở đôi mắt mộng trăm năm hỡi,
Nén nỗi lòng đau cố lý ơi.
Một mình đối bóng im không nói,
Tóc trắng như đang rũ trắng đời.

Đây là bài thơ “La Phù giang thủy các độc tọa” nguyên bằng chữ Hán của cụ Tiên Điền, ông sáng tác lúc ngồi trên nhà thủy tạ sông La Phù. Trong bài có những câu đắc địa “Trần thế bách niên khai nhãn mộng” có thể cho chúng ta hai cách hiểu. Một: Sống trăm năm trên cuộc đời một sớm tình cờ chợt hiểu ra chỉ là cơn mộng. Hai: Sống loay hoay vui buồn hờn giận, được mất lãng quên chìm trong mộng mị đến cuối cùng chợt tỉnh ra thì….Ôi thôi…đã trăm năm. Bản dịch của Nhật Chiêu khá nhạc điệu nên tôi trích đọc nơi đây làm khởi nhân cho câu chuyện.

Mở đôi mắt

Mở đôi mắt mộng”, đối với cụ Nguyễn Du với bút hiệu Tố Như, là mở đôi mắt để thấy ta sống vì người khác trong suốt gần trăm năm, nhưng lúc tật bệnh hay nạn tai giáng xuống đời mình, ta “một mình đối bóng”, không người thân nào đau dùm ta nỗi đau của nạn tai đã đến, thở dùm ta một hơi thở khi bản thân nằm thoi thóp trên giường bệnh. Hơn nữa, mở đôi mắt để hiểu được “hình hài hôm sớm đổi”,vậy cần phải làm gì, chúng ta hãy làm ngay, đừng đợi đến khi “tóc trắng … rũ trắng đời”, hoặc tệ hơn khi tay chạm nắp hòm mới“mở đôi mắt mộng”.

Theo giáo lý đạo Phật, “mở đôi mắt mộng” mang nhiều hàm nghĩa khác. Trước tiên, chúng ta cần mở đôi mắt mộng để tiếp cận với Chánh pháp của Thế Tôn,thấy rằng chúng ta chẳng khác gì những con sùng, hằng ngày cẩn thận chọn thức ăn ngon để nuôi hình hài này, nhưng cuối cùng hình hài vẫn trở về cát bụi. Đôi mắt mộng cần mở để sớm xây dựng được niềm tin nơi Tam Bảo, từ đó ít nhất hiểu được hình hài này đã sinh ắt sẽ diệt, và đã chịu ảnh hưởng của sinh diệt thì không thể gọi đó là “hình hài của ta”. 

Mở đôi mắt mộng”với hàm nghĩa thứ hai là để chấm dứt trò rượt đuổi theo hạnh phúc được tạo từ xúc cảm. Thứ hạnh phúc này giống như con đom đóm nhấp nháy, chấp chới bay sáng cả vùng trời. Hồi bé khi nhìn đom đóm, chúng ta vô cùng lý thú rượt đuổi theo. Nhưng khi nắm được trong tay rồi, chúng hết đẹp, chỉ là một loại côn trùng xanh xanh, rất tầm thường.

Hạnh phúc có từ xúc cảm cũng thế, khi ta có được rồi, nó không còn giá trị. Hạnh phúc có từ xúc cảm lại chẳng bền vì chính xúc cảm thay đổi liên tục, hết buồn rồi thương, hết thương rồi giận, hết giận đến ghét. Nguy hiểm hơn cả, xúc cảm là những động lực vô cùng mạnh, chiêu dụ được chúng ta lặn ngụp trong niềm vui trần thế mong manh, khiến chúng ta bỏ lỡ biết bao dịp may gặp được Phật pháp, không chỉ lỡ trong đời này mà còn lỡ cả ngàn vạn kiếp sau.

Thế thì đôi mắt mộng lại càng cần được mở để bản thân sớm khởi phát Bồ đề tâm, biết quan sát xúc cảm,thấy được chu kỳ sinh diệt của xúc cảm. Biết dựa vào Chánh pháp mà thực tập, lòng ta được rộng mở, những tảng băng tiêu cực như buồn phiền, giận dữ, căm tức, xung đột, bất an đều tự động tan biến. Làm được vậy, chúng ta thoát khỏi vòng xoáy của xúc cảm, chấm dứt luôn những cuộc đuổi tìm hạnh phúc phù du như ánh sáng nhấp nháy của đom đóm.

Mở đôi mắt mộng”với hàm nghĩa thứ ba là chấm dứt việc xem “Ý thức” là chủ nhân của ta. Nhìn cho kỹ, Ý thức chỉ là những dòng chữ nghĩa sinh diệt chạy trong tâm thức, còn gọi là tiếng nói thầm thì. Ý thức thật ra là năng lực tôi tớ rất tiện dụng, chúng ta có thể bắt chúng làm việc rất hiệu quả. Thế nhưng buồn thay, chúng ta thường xem Ý thức là chủ nhân ông. Vậy nên sớm mở đôi mắt để làm người quan sát, dõi theo được mọi vận hành miên man của Ý thức. Làm được vậy, Ý thức không còn khả năng điều khiển chúng ta nữa vì chúng đã trở thành đối tượng bị ta quan sát. Đến đây, chúng ta đã đạt tới tầng bất động địa của Bát địa Bồ tát chứ đâu phải chuyện thường.

Pháp hành trì

Vậy dựa vào Chánh pháp Như Lai, nên thực tập làm “người quan sát” như thế nào để được “mở đôi mắt mộng”? Đầu tiên, chúng ta tập hướng tâm vào trong quan sát để thấy hình hài này chỉ là sự hợp thành của Tứ đại gồm đất, nước, lửa, gió. Ai trong chúng ta hiểu được tỏ tường như thế, khi Tứ đại đến hồi tan rã, sẽ thanh thản ra đi, biết rằng trong tương lai với hình hài mới khoẻ mạnh hơn, ta sẽ phụng sự cho Tam Bảo được nhiều hơn. Sự ra đi thanh thản này còn giúp người thân thấy được lợi ích của Chánh pháp, từ đây niềm tin Tam Bảo nơi họ càng thêm vững vàng.

Kế đến, chúng ta thực tập quay vào trong quan sát cảm xúc và ý thức. Nếu buồn vui và những tiếng nói thầm thì đến ư? Chúng ta chỉ đơn thuần nhận diện chúng, không trấn ngự, không có ý muốn dập tắt. Nên nhớ rằng không pháp thực tập nào từ lời dạy của Đức Phật mang tính bạo động, tất cả đều rất nhẹ nhàng và từ bi.  Khi thực tập chưa quen, chúng ta phải làm một bước trung gian là gọi tên chúng: “Này buồn kia! Ta đang nhìn mi. Mi là đối tượng bị ta nhìn.” Bằng một câu gọi tên như vậy, chúng ta phân định rõ ràng biên giới giữa ta với cảm xúc và ý thức.Từ lâu lắm rồi, chúng ta vẫn có thói quen “thuyền đến thì xuống thuyền ngồi”, cảm xúc và ý tưởng xuất hiện, ta liền đồng nhất mình vào chúng. Biết tu rồi, ta là người đứng trên bờ, nhìn chiếc thuyền cảm xúc và ý nghĩ trôi ngang trước mặt.

Khi đã thuần thục quan sát mọi động thái của thân tâm, luôn an trú nơi phần bất động của tâm để quan sát, chúng ta không còn để mình đồng nhất vào nghiệp thức của ba cõi sáu đường, tự tại trước tử sinh. Đấy là việc làm rất căn bản cho mọi người chúng ta, phải tập từng bước quan sát đời sống, cảm thọ, thức tâm. Nhưng đối với những thiền sư đã lịch kiếp tu, những bậc Thánh tái sinh thì chỉ trong tróc tay ngộ đạo, họ nhận biết tự tâm chính là Phật, an trú liền nơi Tâm Phật vô niệm chiếu sáng, trở thành bậc Thánh giữa nhân gian, thong dong bước vào tầng bất động địa, nghiêng vai gánh vác Đại pháp Như Lai.

Phân tích như thế cũng để chúng ta biết trân quý nhân duyên đã gặp được Phật pháp, nhờ thế ta hiểu được tỏ tường ta là năng lượng chiếu sáng vô hình, vô danh, vô thinh, vô ảnh, đang hiện tiền và vô sinh bất diệt. Nói cách khác, đây là năng lượng tuy vô hình nhưng đã tạo thành mọi đời sống vật chất hữu vi, rồi đến một lúc nào đó lại trở về dạng năng lượng. Chính sự chuyển hoá năng lượng sang vật chất và ngược lại, các bậc Thánh bảo rằng chúng ta là vô ngã.

Kết luận

Thế Tôn đã dạy rằng: “Phật đang có sẵn trong hình hài năm uẩn này”. Nếu chúng ta không may mắn học hiểu và thấu đạt được Phật pháp, đấy chỉ là sáo ngữ, và chúng ta vẫn một mực chấp thân này là tôi, gia đình, của cải, buồn vui là tôi. Nếu chúng ta đủ duyên lành đến được với Đạo, tin sâu nhân quả, bắt đầu tập tu, biết kính Phật trọng Tăng, biết niệm Phật, mở lòng bố thí cho những người kém may mắn. Dần dần, chúng ta hiểu sâu hơn về giáo lý, quán chiếu lý vô ngã trong mọi pháp hữu vi của Phật dạy, thấy rằng thân này và mọi động thái của thân vốn sinh vốn diệt, cảm thọ này luôn bồng bềnh đến đi, suy nghĩ này là dòng nghiệp thức tạo thành không phải là ta. Ta là năng lực tâm “bất sinh diệt” nhận diện được động thái thân, cảm thọ, suy nghĩ “luôn sinh diệt”.

Hãy chuyên cần tu tập làm người quan sát mọi trạng thái thân tâm. Tu tập cho đến khi năng lực chánh niệm đủ dầy, cuối cùng tạo được tập khí mới.  Đó là tập khí ý thức được ta không phải là đối tượng bị biết, ta là chủ thể biết, chủ thể biết nầy vốn rỗng lặng, tịch nhiên, không sinh không diệt. Điều quan trọng là không dừng nơi “hiểu” ta là “Tâm bất động” mà phải “làm” cho được.

Tóm lại, hãy vo tròn đời mình ném vào tâm bất động, ấy là cách chúng ta“Mở đôi mắt mộng”.

Thích Phước Tịnh

Phiên tả dựa vào pháp thoại “Đời Sống Thiền Tập – Bài 01”

No comments yet.

Share Your Thought. Leave a Comment