Mẩu Truyện Phật Giáo

CHẾT NHƯNG BẤT TỬ

Huyền thoại

Bạn đã từng đọc qua huyền thoại về Tổ Bồ Đề Đạt Ma chưa? Huyền thoại kể rằng ba năm sau khi Tổ viên tịch, Tống Vân (nhà Ngụy)đi sứ phương tây về gặpTổ trên ngọn núi Thông Lãnh. Lúc ấy Tổ quảy trên vai chiếc gậy. Đầu gậy sau lưng treo một chiếc dép. Tổ cho Tống Vân biết ngài đang trên đường rời Trung Hoa về lại Thiên Trúc, Ấn Độ. Tổ dặn Tống Vân nên trở về kinh đô gấp vì Vua sắp băng hà. Tống Vân vâng lời từ giã Tổ. Về đến nơi, quả thực vua Minh Đế vừa mất. Tống Vân tâu lên với vua Hiếu Trang là vị vua mới kế vị về sự việc gặp Tổ quảy một chiếc dép. Vua nghe xong ra lệnh quật mộTổ Đạt Ma lên để kiểm chứng. Khi quan tài được mở ra, quả nhiên trong quan tài không có gì ngoài một chiếc dép. Thế là huyền thoại và hình tượng Tổ Bồ Đề Đạt Ma quảy một chiếc dép về tây được truyền miệng từ đời này sang đời khác.

Cả bề dày lịch sử Thiền tông Trung Hoa tràn đầy truyền thuyết với mầu sắc huyền thoại như thế. Nào là Phật sinh ra từ nách, nào là vừa chào đời Ngài liền đi bảy bước. Ngài lại còn biết nói ngay sau đản sinh. Nếu bạn thiếu cảnh giác, bạn sẽ tin đó là những câu truyện thật. Nên nhớ rằng “huyền thoại” đồng nghĩa với “truyện không thật”. Tuy nhiên, khác biệt giữa huyền thoại Đạo Phật và truyện ký nhân gian ở chổ những ẩn nghĩa triết lý u uẩn được dung chứa bên trong. Chúng ta sẽ bàn điều này trong một cơ hội khác. Ở đây hãy nhận diện loại huyền thoại này không có trong lịch sử Thiền tông Việt Nam. Bạn đã từng đọc qua mẩu đối thoại giữa thiền sư Thường Chiếu và một môn đồ của Ngài chưa?Mẩu đối thoại như sau:

Môn đồ hỏi:

-Thưa Thầy, Thầy có thuận thế không?

Thiền sư Thường Chiếu đáp:

– Ý của con ‘thuận thế’ là có chết như mọi người ở trần gian?

– Vâng.

– Có chứ!Ta cũng sẽ chết như mọi người thôi. Tại sao con hỏi vậy?

Môn đồ thưa:

– Dạ, con nghe rằng Bồ Đề Đạt Ma không thật sự chết. Ba năm sau khi được chôn cất tại Trung Hoa, có người thấy Ngài quảy một chiếc dép đi về Ấn Độ.

Thiền sư Thường Chiếu gạt phăng lịch sử nguỵ tạo ấy với câu trả lời rất kiêu kỳ nhưng nói lên được lẽ thật của đạo Phật:

– Một con chó sủa láo, cả bầy chó sủa hùa theo!

Thật vậy, Thế Tôn cũng xã bỏ nhục thân vào tuổi tám mươi, khi trà tỳ tứ đại cũng ra tro,chỉ những mảnh xương được gọi là xá lợi còn lại. Thế nên, làm gì có chuyện Bồ Đề Đạt Ma bất tử!

Thế Tôn chẳng đã từng dạy bệnh, già, chết là quy luật rất tự nhiên:

Già thì hình sắc suy

Lâm bệnh thân rã rời

Hình thể sẽ hư nát

Chết tự nhiên đến thôi.

(Thích Phước Tịnh dịch từ Kinh Pháp Cú trong Hán tạng)

Tội ác

Thông thường người trẻ không lo nghĩ gì nhiều về lão, bệnh, tử, nhưng đến tuổi trung niên bắt đầu sợ chết. Đây là lúc dễ bị lừa gạt, nghe lời xúi dục uống thuốc này, ăn thứ nọ, không từ nan dùng một sinh mạng khác để bản thân được khoẻ, trẻ, đẹp, sống dai. Những sinh mạng ấy có thể liên quan đến chim yến, đến cá mập trắng, hoặc đến cả đồng loại là loài người.

Yến trời sinh ra chân ngắn, chỉ bám vào vách đá, sống giữa trùng khơi mênh mông. Không dùng cây làm tổ được nên trên vách núi cheo leo, vợ chồng yến nhả nước miếng xây tổ trước; sau đó đẻ trứng và nuôi con trong “yến sào” (tổ yến). Người Trung Hoa hô hào rằng ăn “yến sào” sẽ tăng trưởng tính dục,tăng sức đề kháng, làm mịn da mặt, tuổi già chậm đến. Vì thế người ta không ngại ngần bỏ tiền mua tổ yến về ăn. Ngày nay có loại yến nuôi ở nhà hoặc yến nuôi kiểu công nghiệp, khai thác tổ yến xem chừng đỡ vô nhân đạo. Nhưng yến nhà và yến công nghiệp vẫn không được chuộng bằng yến đảo. Dân nghèo phải ra đảo để hái tổ yến, bắt thang rất cao, té là chết.Những người khai thác tổ yến không coi trọng mạng sống của mình, cũng không coi trọng mạng sống của chim. Có những người không ngần ngại lượm yến con hoặc trứng yến ném xuống biển, gỡ nguyên cả tổ đem bán.Mua những tổ yến được đánh cướp như vậy để tẩm bổ bản thân, đó là một tội ác!

Vi cá mập được người Trung Hoa dùng làm nguyên liệu cho những món ăn được mệnh danh là “Món ăn nghìn năm của người Trung Hoa”. Ngư dân khi bắt một con cá mập, chặt vi cá xong,họ thả cá trở lại biển. Họ bán vi cá lấy tiền bỏ túi, chẳng sót thương chi con cá nay không còn vi, mất thăng bằng không thể bơi được nữa, trở thành mồi cho những con cá khoẻ mạnh khác. Mua những vi cá đã được khai thác dã man như vậy để bồi bổ bản thân, đó là một tội ác!

Các cô gái Việt ở vùng ven biên giới phía bắc bị bán qua Trung Hoa, được nuôi trong “lò nuôi người”. Tất cả những bộ phận nội tạng của người con gái Việt Nam khoẻ mạnh ấy bị cắt đem bán. Mua những nội tạng ấy, nghĩ rằng sẽ giúp thọ mạng mình kéo dài, đó là một tội ác. Tội ác này cũng cao ngất trời như tội uống những viên thuốc tăng cường sinh lực của Hàn Quốc làm bằng thai nhi.

Vậy suy cho cùng, chỉ cần bằng lòng với chu kỳ sống và chết như lời Phật dạy, chúng ta đã được gọi là người biết tu. Biết chấp nhận chu kỳ đến đi sinh, bệnh, già, chết của hình hài là đã có chút trí tuệ. Không dùng những món ăn hay sử dụng dược phẩm được chế biến từ sinh mạng khác là đã có lòng từ bi. Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao ta phải giết nhiều sinh mạng để nuôi dưỡng và làm thoả mãn nhu cầu vật dục cho thân? Tại sao ta không nâng cao tâm thức để chính mình và vạn loài được an lạc?

Thân tâm

Chúng ta ai cũng có một thân người như nhau, nhưng cách sử dụng thân có phần khác nhau, tùy thuộc vào trình độ tâm thức cao hay thấp. Ví dụ bạn là người có tâm thức ở mức độ bình thường, thân này chỉ là một công cụ để bạn hưởng thụ những dục lạc cần thiết như cái ăn, cái mặc, sinh hoạt tính dục.Nếu bạn là người biết nâng tâm thức lên cao, ngoài sự hưởng thụ dục lạc bình thường, bạn còn có những hưởng thụ thanh tao hơn, như thưởng lãm âm nhạc và nghệ thuật. Nhưng nếu tâm thức bạn được nâng lên đến một chiều kích tâm linh nhất định, bạn tuy mang thân người nhưng cách sử dụng thân của bạn thuộc hàng Thánh, thậm chí của một đấng Thế Tôn.

Vậy mới thấy sự khác biệt không nằm ở hình hài cao hay thấp, đẹp hay xấu. Sự khác biệt nằm ở cách sử dụng thân. Tùy vào cách sử dụng thân như thế nào mà quả lành hay quả dữ sẽ đến như thế ấy. Quả dữ sẽ đến nếu bạn hạ thấp tâm thức mình xuống, chìu theo nhu cầu vật dục của thân, nợ máu thịt, gây ác nghiệp. Quả lành sẽ đến nếu bạn biết nâng cao tâm thức, khéo dùng thân này cho việc tu tập thiện pháp, chứng đạt Thánh quả.

Thế Tôn đã dạy rằng trong thân tràn đầy chất xú uế luôn tìm cách đi ra. Bệnh tật lại luôn tiềm phục, chờ có cơ hội liền phát tán. Chưa kể cái chết rất bất ngờ, rớt xuống ta lúc nào không hay. Thân bất tịnh thế đấy, nhưng vì không dễ có được thân người, Thế Tôn đã không ngừng nhắc nhở chúng ta phải biết khéo dùng thân này sao cho xứng đáng với một đời người:

Thân này hữu dụng chăng?

Bất tịnh luôn rỉ chảy

Bệnh tật giam nhốt hoài

Già chết luôn rượt đuổi

(Thích Phước Tịnh dịch từ Kinh Pháp Cú trong Hán tạng)

Hữu vi

Máu được xem là phần “hữu vi”của tầng vật chất trong thân người vì bản chất máu luôn thay đổi không ngừng. Cảm thọ như vui, buồn, lo âu, phiền muộn v.vv…cũng được xếp vào phần “hữu vi”nhưng thuộc tầng tâm thức và cũng chịu ảnh hưởng quy luật vô thường, đến đi, sinh diệt. Cảm thọ tuy vô hình nhưng được biểu hiện trên hình thể bên ngoài, vì thế chúng ta hay nói “vui ra mặt”, “giận tía tai”. Chính vì đặc tính này mà cảm thọ còn được gọi là phần “hữu vi thô” của tâm thức.

Bên cạnh “hữu vi thô” còn có phần “hữu vi mịn”. Đó chính là tiếng nói thì thầm huyên thuyên phố thị, là những ý nghĩ vận hành bên trong. Chúng ta ngồi yên như Thánh, chẳng nói năng chi, mắt lim dim, thân bất động. Người ngoài nhìn tưởng ta đang thiền tập, nhưng thật sự bên trong ý thức ta đang chạy ngược xuôi như con thoi.

“Phần mịn” lại có khả năng nuôi dưỡng “phần thô”. Ví dụ, vui buồn theo duyên mà chợt khởi, hết duyên liền tan biến. Nhưng tiếng nói thầm thì (phần mịn) không ngừng nghĩ về những dữ kiện liên quan đến vui buồn (phần thô). Nhờ được ý nghĩ gia cố như vậy, vui buồn như ngọn lửa được tiếp dầu, gần tắt hẳn lại được dịp bùng lên lại.

Nghĩ cho tận tường, đầu tư nuôi dưỡng phần hữu vi cả thô lẫn mịn đều là việc làm sai lầm. Nếu bạn tu chỉ để thành đạt phần hữu vi của tâm thức dường như rất cạn cợt. Bạn phải nhớ rằng điểm đến của người tu không phải là niềm vui phù thế, đến đi mất còn của xúc cảm hạnh phúc hay hỷ lạc, mà là đạt đến trạng thái vô vi an bình tịch lặng.

Vô vi

Máu (hữu vi) lưu thông được trong cơ thể là nhờ phần rỗng (vô vi) bên  trong trái tim và mạch máu. Từng đơn vị tế bào nhỏ khác trong cơ thể cũng đều có những khoảng không nhất định để vận hành toàn thân. Hình hài này(hữu vi) tưởng chừng cứng chắc nhưng vẫn rất nhiều khoảng không (vô vi) hiện hữu. Đó là ở tầng vật chất của đời sống.

Trong tầng tâm thức của đời sống cũng thế, cảm thọ và ý nghĩ (hữu vi) diễn ra bên trên phần rỗng không(vô vi), như chữ viết được ghi trên phần trống không của tờ giấy. Trạng thái rỗng không này tự hữu, chẳng cần vận dụng công tu để có, không phải ngồi thiền mới đạt, lại không bị luật vô thường chi phối. Nếu an trú được trong trạng thái rỗng lặng, an bình, tràn đầy ánh sáng của sự nhận biết, chúng ta có khả năng làm “người quan sát”, đứng ngoài nhìn thấy buồn vui đến rồi đi mà không tự đồng hoá mình vào buồn vui.

Tuy nhiên, nếu bạn không bước chân vào con đường tu tập, bạn chẳng thể có khả năng an trú được nơi năng lượng nhận biết ấy. Ngôn ngữ Phật học gọi đó là an trú ngay tâm Phật bất động. Trong bài thơ “Tâm Thống Thị Chúng”, Thiền sư Thường Chiếu giới thiệu hoa trái của người đạt đến trạng thái rỗng không vô vi ấy như sau:

Đạo vốn không nhan sắc

Mỗi ngày đều tinh khôi

Ba ngàn thế giới ấy

Chỉ là nhà đấy thôi.

Thật vậy, ai có tu tập sẽ tìm được an lạc nơi tâm Phật bất động, thân lúc nào cũng thoải mái, tâm lúc nào cũng hạnh phúc, đâu đâu cũng là nhà. Xa hơn nữa, khi trả hình hài về cát bụi, bạn không cần phải băn khoăn ta sẽ sinh về đâu. Ngay bây giờ bạn đã an trú nơi Pháp giới thân bất diệt của chính bạn và cũng của Thập phương Chư Như lai rồi.

Tu tập

Chúng ta phải đặt con đường tu là con đường cao vời nhất cho lý tưởng của đời sống, và mỗi người chúng ta phải tự chịu trách nhiệm cho công trình tu tập của chính mình. Tu tập bước đầu là từng ngày biết làm mới bản thân bằng cách đổ vào đời sống những hành động, lời nói, ý nghĩ lành thiện dễ thương. Tu tập bước cuối là phải thực tập làm người quan sát để chạm tay được vào vùng đất vô sinh, thành đạt giải thoát tối thượng.

Chúng ta phải xem tu tập là công việc cấp bách cần làm. Ngài Patrul Rimpoche nói rằng ngọn đèn thọ mạng của chúng ta đứng trước ngàn vạn cơn gió, có vạn điều bất trắc có thể xảy ra. Thế nhưng thay vì gấp rút tu tập, chúng ta dùng quỹ thời gian quý giá ấy để gom hết giận hờn vu vơ vào lòng, để đón ngàn vạn cơn gió vào nhận chìm đời sống tự thân. Một khi mạng sống bị rớt vào hố vô thường, dù được cả trăm người thương, không ai thay ta đau, thay ta già, cũng chẳng ai thay ta chết. Chúng ta phải mau chóng bước vào con đường tu tập để vượt qua nỗi sợ hãi về bệnh, già, chết, và sẵn sàng chào đón chúng khi chúng đến với mình.

Có câu chuyện vui liên quan đến đề tài “đón chào cái chết”. Truyện kể rằng có một hoàng đế nọ gặp tử thần trong giấc chiêm bao. Tử thần nói với Hoàng đế:

– Chiều mai lúc mặt trời lặn là lúc anh đi với tôi nhé. Anh đến số chết rồi đó.

Hoàng đế giật mình thức giấc, mồ hôi vã ra như tắm. Chưa đến giờ ngự triều, Hoàng đế đã cho tập hợp quần thần:

– Ta hôm nay có việc cần bàn gấp với các khanh.

Hoàng đế kể lại giấc chiêm bao, rồi hỏi quần thân:

– Mặt trời xuống là ta chết. Các khanh có cách gì giúp ta không?

Quần thần kẻ bàn ra, người tán vào. Những người ăn lộc triều đình lâu nay, giờ râu tóc bạc phơ, muốn cống hiến một giải pháp hay để trả ơn Hoàng đế, vậy mà cũng không tư vấn được gì cho Hoàng đế cả.

Trong khi cả triều đình còn đang bàn bạc tìm sáng kiến hay, tên lính đang đứng cạnh bên hầu, kề tai thưa Hoàng đế:

– Tâu Bệ hạ. Những tên tôi thần này không nhờ được chi đâu. Tốt nhất là bệ hạ leo lên lưng ngựa chạy thật xa. Ngay bây giờ Bệ hạ đi liền đi, đến chiều mình chạy được xa rồi, tử thần đâu biết bệ hạ ở đâu mà tìm. Bệ hạ mà ngồi đây nghe mấy tên tôi thần này lý sự thì trễ mất.

Hoàng đế khen đó là một kế sách hay. Nghe lời khuyên của tên lính hầu, Hoàng đế leo lên lưng ngựa phi nước đại. Dẫn theo ba con ngựa sau lưng, con ngựa nào mệt, Hoàng đế leo lên con ngựa khác cưỡi tiếp. Chạy miệt mài đến chiều, Hoàng đế quyết định dừng lại, miệng cười hỉ hả vì đã chạy cách hoàng thành rất xa.

Cuối thôn làng có một ngôi nhà. Hoàng đế xuống ngựa, cột ngựa vào thân cây trước cửa, rồi tiến vào nhà. Hoàng đế gõ cửa, vừa cất tiếng xin phép:

– Có ai ở nhà  không? Xin cho tôi ngủ qua đêm. Tôi là người khách lỡ đường.

Người ra mở cửa chính là Tử thần. Tử thần nhìn Hoàng đế mỉm cười và nói:

– Ồ, từ sáng đến giờ tôi cứ lo lắng, sợ ngài chạy đến căn nhà này không kịp vì đây là chỗ ngài sẽ chết. Bây giờ thì tôi không cần phải lo lắng nữa. Ngài đã đến đúng hẹn.

Hoá ra là Hoàng đế chạy trối chết chỉ để đến chỗ chết. Tội nghiệp thay cho con người: bệnh, già, chết rượt theo đến cuối chân trời, không cách chi trốn thoát.

Kết luận 

Bạn đã nâng tâm thức đủ cao để nói “không”với những thứ làm bằng sinh mạng của vạn loài khác? Mạng sống nào cũng cực kỳ mong manh, đừng tàn phá huỷ hoại đời sống của mình lẫn của người. Đừng dại để bản thân phải chuốc lấy địa ngục ngay kiếp này và ngàn vạn kiếp sau.

Bạn đã quán chiếu được tính vô thường của pháp hữu vi? Hiểu rõ được pháp hữu vi như thân hình này do nhân duyên kết hợp, bạn không còn sợ hãi khi thấy hình hài mình lừng lững tiến dần đến già, bệnh, chết? Bạn cũng không còn bị khổ não trước sự đến đi, mất còn của tiền tài, danh vọng, tình cảm, nghĩ suy? Nếu vẫn chưa trả lời được câu hỏi ấy, bạn hãy tu tập làm “người quan sát” các pháp hữu vi với sự nhận biết an nhiên, rỗng sáng (vô vi)? Nên nhớ rằng “hữu vi” và “vô vi”luôn tồn tại song hành như hai mặt của một bàn tay. Vì thế đừng nghĩ phải “diệt” hữu vi để “có” vô vi. Sinh tử và Niết bàn chỉ là hai trạng thái tâm đang hiện hữu ngay bây giờ mà bạn đang sở hữu. Việc cần thực tập chẳng qua chỉ là gia tăng thời gian an trú trong trạng thái Niết bàn của chính bạn.

Đã thực tập rồi, nếu bạn vẫn còn than vãn: “Tôi sầu thảm”, bạn phải coi lại cách hành trì của mình. Nếu bạn có thể khẳng định: “Tôi luôn là người quan sát cảm thọ sầu thảm, tôi chỉ đơn thuần là người quan sát sự nghĩ suy”, bạn đã đi đúng đường! Nếu bạn tuyên bố được: “Tôi ư? Không có cái gọi là tôi mà đơn giản chỉ là trạng thái tâm rỗng sáng, tịch lặng, an nhiên, sinh hoạt như bao con người giữa thế gian nhưng chẳng buồn vui sầu khổ chi của thế gian xâm phạm vào đời sống của tôi”, bạn đã ngộ đạo, thấy Tánh, an trú miên viễn trong thể Niết bàn tịnh lạc.

Đời sống là một niềm vui. Hãy sử dụng cho thật xứng đáng một đời người đáng quý!

Thích Phước Tịnh

Phiên tả dựa theo pháp thoại ‘Kết Một Tràng Hoa – Phẩm Quán Chiếu Vô Thường 07

Nghe thêm: http://thienquantam.com/index.php/audio-video/audio/thich-phu-c-t-nh/T/12-thich-phu-c-t-nh/819-k-t-m-t-trang-hoa/13564-07-quan-chieu-vo-thuong-07

No comments yet.

Share Your Thought. Leave a Comment