Mẩu Truyện Phật Giáo

BẬC ĐA VĂN TRONG ĐẠO

Phụng thờ bậc đa văn
Đoạn trừ được ưu não
Giận dữ và bất tường
Được an lành tuyệt hảo.

Thích Phước Tịnh dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

***

Phụng thờ bậc Đa văn

Đọc câu đầu tiên trong lời Kinh Pháp Cú này, bản thân tôi nhớ đến vị Thầy Bổn Sư của mình. Kể từ khi bước chân vào cuộc đời xuất gia ở tuổi 16 cho đến tận bây giờ, đối với tôi, Ngài là một bậc đa văn, một bậc thiện tri thức mà tôi đem hết tấm lòng ngưỡng mộ và tôn kính. Ngài không hề dạy tôi câu kinh nào, nhưng qua thân giáo của Ngài, Ngài đã tạo cho tôi một nền tảng vô cùng vững chắc để tôi biết thờ phụng, tôn kính, tuân phục những thiện tri thức tu trước tôi, từ đây tôi có thể tu được tới hôm nay, chưa bao giờ quay lưng lại với Tăng bảo. 

Thế rồi chúng ta thử hỏi nhau tại sao Thế Tôn mời gọi chúng ta phụng thờ bậc đa văn?Tôi thiết nghĩ do vì khi chúng ta tôn kính bậc thiện tri thức có nhân cách cao quý, tâm thức chúng ta có chí hướng đưa đời sống mình lên cao để đạt được những thành tựu như thành tựu của quý Ngài và ít nhiều có được phẩm tính cao quý như phẩm tính của quý Ngài. Đấy là phản ứng tự nhiên trong đời sống nhân gian.

Trong đời sống Đạo, khi chúng ta biết thờ phụng, tôn kính, tuân phục bậc đa văn, cơ duyên được học Chánh pháp của Như Lai chắc chắn sẽ đến, từ đó chúng ta thấy được pháp hành trì, đẩy mạnh đời sống tâm linh lên tầm cao. Điều này rất thực vì đã xảy ra với chính bản thân tôi.  Pháp hành trì của Thế Tôn giảng dạy từ hơn 2.600 năm trước mà tôi đã học được và vẫn đang hành trì chính là pháp “Niệm Thân Hành”. Tôi vẫn thường xuyên giới thiệu với các Phật tử ham tu hiếu học pháp hành trì này dưới tên gọi khác là “Thắp Sáng Sự Nhận Biết.”

“Thắp Sáng Sự Nhận Biết” bắt đầu bằng việc thực tập nhận biết từng hơi thở vào ra trong chánh niệm. Kế tiếp thực tập nhận biết từng bước chân đặt trên mặt đất với cảm nhận bình ổn nơi tâm. Khi đã có năng lực chánh niệm tròn đầy, hành giả tiếp tục thực tập nhận diện từng xúc cảm đang dâng lên bên trong tâm thức. Cuối cùng, hành giả thực tập nhận diện được cảm thọ kia không phải là mình, đơn giản chỉ là những cảm thọ đến rồi đi, sinh rồi diệt, là đối tượng bị mình quan sát, và bản thân là người quan sát, không dính chi đến đối tượng bị quan sát cả.

Một khi đi được đến đoạn này của công phu hành trì, hành giả chắc chắn sẽ có khả năng đoạn trừ được ưu não, giận dữ và bất tường như được trình bày trong câu hai và câu ba của bài kệ, được an lành tuyệt hảo như trong câu cuối. Nhưng đây không phải là điểm đến của công phu hành trì. Thành tựu cuối cùng phải là bản thân trở thành bậc hiền nhân có Thánh trí, thành tựu Niết Bàn. Muốn đi được đến phần cuối của đoạn đường, theo tôi, không có cách nào hay hơn là phụng thờ bậc đa văn, như lời Thế Tôn mời gọi trong câu đầu tiên của bài kệ.

Giá trị bậc đa văn

Bậc đa văn với nhân cách lớn thường phải có đủ hai phẩm chất: Tấm lòng nhân hậu và năng lực trí tuệ.

Nếu cần lấy ví dụ về tấm lòng nhân hậu của một bậc đa văn, tôi không ngần ngại nói về Thầy Bổn Sư của mình. Tình thương của Thầy với nhóm đệ tử chúng tôi thật vô bờ bến.  Thầy không chỉ chăm sóc, dạy dỗ chúng tôi về cách ăn, kiểu ngồi, mà còn nuôi dưỡng chúng tôi cả khi thức lẫn khi ngủ.  Ngài quan sát nhân cách của chúng tôi khi chúng tôi đảnh lễ trước mặt Ngài, và không quên để mắt đến chúng tôi khi chúng tôi nói năng sau lưng Ngài. Bản thân tôi nhớ mãi cách Thầy dạy tôi đặt trọn chánh niệm khi mở từng trang Kinh Phật .  Thầy dạy như thế này: “Con à, trong mỗi cuốn Kinh Phật đều có một hộ Thần canh giữ. Khi mở từng trang Kinh, con phải xá Quý Ngài đàng hoàng nghe con.”Lời dạy từ trái tim nhân hậu của Ngài cho đến nay tôi không thể nào quên.

Nói về năng lực trí tuệ, một vị Thầy trong Đạo phải có trình độ cả Thế học lẫn Phật học. Nếu trình độ tri thức nhân gian bị giảm đi do vì xuất gia sớm, không có điều kiện học trong trường lớp, không có cơ hội trải nghiệm đời sống thế tục, trình độ Phật học của vị Thầy ấy phải thật cao để bù đắp cho phần Thế học bị khiếm khuyết. Trên thực tế, rất khó kiếm được một bậc Thầy có Thánh trí, với trình độ Thế học và Phật học thâm sâu bằng nhau.

Nhân đây tôi xin nói qua về Thánh trí. Thánh Trí được chứng nghiệm từ trí tuệ, không phải từ định. Một thiền sinh có thể có an lạc khi chìm trong trạng thái định nhưng phẩm chất cuộc sống của vị ấy không gì thay đổi. Có câu truyện kể về một anh cư sĩ người Tây Tạng thường đi buôn trên tuyến đường từ miền Đông Tây Tạng sang tận bên Trung Hoa.  Một lần nọ, trong chuyến buôn thường năm, anh và những bạn cùng đi quyết định dừng lại tại một cánh rừng để nấu trà uống khi trời trở lạnh. Anh lãnh trách nhiệm đi kiếm thêm củi. Trên đường đi sâu vào rừng, bỗng nhiên anh có nhu cầu ngồi tĩnh tâm. Anh bèn xếp bằng toạ thiền. Bất thần, anh lạc vào cơn “định”, quên cả thân tâm.

Các bạn của anh chờ mãi không thấy anh mang củi về, túa đi kiếm mà vẫn không thấy anh đâu, đành thu dọn hành lý tiếp tục cuộc hành trình đi Trung Hoa. Một năm sau, trên đường quay về Tây Tạng, cũng đi ngang cánh rừng xưa, nhóm bạn cùng đi buôn quyết lòng vào rừng lần nữa, mong rằng tìm được mảnh áo của anh rơi rớt lại, mang về cho gia đình anh như chứng tích báo tử.  May sao lần này họ lại thấy được chỗ anh đang ngồi toạ thiền. Họ lay anh dậy. Vừa xả định, anh liền hỏi: “Các bạn nấu trà chín chưa?”

Câu truyện đến đây cho chúng ta thấy khi chìm trong định, anh cư sĩ nọ đơn giản chỉ dừng sự sống lại một năm nhưng nội dung cuộc sống của anh cũng vẫn thế, không thấy tia sáng trí tuệ nào loé khởi trong câu nói đầu tiên sau khi xả thiền. Nói cách khác, toạ thiền nếu không có năng lực nhận biết chiếu sáng, chúng ta sẽ dễ lạc vào tình trạng vô ký, có thể có an lạc nhưng phát triển trí tuệ thì không. Chỉ năng lực trí tuệ có được từ đa văn – học rộng, nghe nhiều cộng với sự tu tập mới giúp chúng ta đoạn trừ được khổ ưu, bất an, thành tựu được thánh tuệ giải thoát. Nếu chỉ có năng lực định thì không thể làm đổi thay nội dung đời sống.

Thân cận bậc đa văn

Trong truyền thống đạo Hindu từ Áo Nghĩa Thư có hàm nghĩa là “Ngồi bên chân Thầy”, có nghĩa tương đương với “thân cận bậc đa văn” trong truyền thống đạo Phật. Những bậc thiền sư lỗi lạc đương thời thường đã từng là thị giả của các bậc Đạo sư lớn. Họ có cơ hội được “ngồi bên chân Thầy”, học những bài học sống động qua cách Thầy tiếp xúc với người, hay cách Thầy xử sự lúc gặp bất trắc v.v..Tuy nhiên cũng có trường hợp thị giả không học được gì nơi Thầy của mình. Đó là những thị giả thiếu sự quan sát tinh tế, ở bên cạnh Thầy cũng chỉ nắm vạt áo Thầy đi tới lui mà thôi.

Khi được “ngồi bên chân Thầy”, hoặc có điều kiện thân cận với một đại chúng có nhiều hiền nhân, năng lực trí tuệ và tính hiền thiện của những bậc đa văn ấy dễ thấm vào chúng ta. Đó là kinh nghiệm của chính tôi khi được tham dự một buổi giảng của Ngài Đạt Lai Lạt Ma tại thành phố Long Beach – California.  Hội trường hôm ấy có đến hơn bảy ngàn thính chúng.  Cả khán phòng như được bao trùm một vùng năng lượng đằm thắm, hầu hết ai bước vào cũng liền thấy an lạc.

Ngồi trên cao, Ngài Đạt Lai Lạt Ma cười nói rất tự nhiên. Cử chỉ của Cụ thân tình và giản dị như đang nói với một nhóm nhỏ dăm ba người. Cụ nói một đoạn tiếng Tây Tạng, rồi dừng lại ngồi chơi, hoặc cầm tờ báo lên đọc. Chờ người thông ngôn dịch sang tiếng Anh xong Cụ lại nói tiếp. Tuy bài thuyết pháp không liên tục nhưng thính chúng không vì thế mà lao xao. Bản thân tôi, không hiểu gì khi Cụnói bằng tiếng Tây Tạng, cũng chẳng hiểu hết lời dịch tiếng Anh của người thông ngôn, nhưng chỉ cần ngắm nhìn Cụ, năng lượng của Cụ nhẹ nhàng thấm đẫm vào tự thân, lòng tôi thanh thản vô ngần.

Thân tâm thanh thản – chẳng phải đó là lợi ích cạn nhất khi chúng ta thân cận bậc đa văn ư? Năng lượng của các bậc đa văn còn có thể giúp chúng ta gột rửa được phiền não, nếm hương vị an lạc, từng bước tăng trưởng niềm tin Phật pháp, tiếp đến chứng nghiệm Thánh quả.Có mường tượng được chăng – lợi ích lớn nhất khi thân cận bậc đa văn đại trí là con đường chắt thật nhất giúp chúng ta chứng được Thánh quả!

Cấp độ bậc đa văn

Có thể chia các bậc đa văn thành ba cấp độ.  Ở cấp độ tầm thấp, một bậc đa văn có thể dạy cho chúng ta những điều căn bản trong đời sống tu. Những bậc đa văn này tìm không khó vì chỉ cần học Phật dăm ba năm đã có trình độ nhất định để trở thành Thầy dạy Pháp.  Tuy nhiên, những vị này chỉ truyền đạt “từ cuống họng đi ra” mà thôi.

Bậc Đa văn tầm trung là những người trí, được ví như những trang sách giá trị, phải đọc đi đọc lại nhiều lần, và đọc lần nào cũng thấy hay cả. Đây là những vị có trình độ tri thức học Phật, có năng lực truyền đạt, có trái tim nhân hậu, có thể kích phát Bồ đề tâm nơi người khác để họ tu. Khi những bậc Đa văn này truyền đạt, họ nói “từ buồng gan,  lá phổi”.

Bậc đa văn ở tầm thâm sâu trong nhân thế khó tìm, trong già lam chẳng dễ kiếm, là những bậc Thầy đã ngộ Đạo, đạt chiều sâu tâm linh, nắm được đường đi lối về của tâm, có thể dùng nhiều phương tiện để truyền đạt pháp thực tập thích hợp với từng người. Ví dụ họ quan sát được căn cơ của người này không thể dạy Thiền tập mà phải dạy niệm chú, hoặc người kia không thể dạy niệm Phật mà phải dạy họ đi vào đời làm từ thiện, tạo phúc điền. Những lời dạy của bậc Đa Văn ở tầm sâu được truyền đạt “từ trái tim.”

Hãy nghiệm mà xem, tâm thức ta ở tầng nào sẽ gặp được bậc đa văn ở tầng đó. Nếu tâm thức ta đến chùa chỉ mong quý Thầy Cô tiếp mình lịch sự, dễ thương, chịu khó ngồi nghe mình tâm sự thì mình chỉ gặp được loại đa văn tầng thấp. Như vậy chúng ta cũng được gọi là có phước lành vì chúng ta được hướng dẫn để cuộc sống không lạc vào tà pháp, không theo những tôn giáo bùa chú mê mờ, làm cùn lụt tri thức. 

Nếu chúng ta đến chùa, chẳng cần Thầy Cô cư xử đặc biệt gì với mình, chỉ mong gặp được quý Thầy Cô dạy cho Pháp hành trì để chuyển hoá thân tâm ngay trong đời này, để đi bất cứ nơi đâu cũng thực tập được. Tâm thức của chúng ta vươn tới tầng này sẽ được gặp những bậc Đa văn tầng trung. Đây được gọi là một duyên lành lớn vì quý Ngài giúp chúng ta nắm được pháp hành trì dù chính họ chưa thành đạt được Thánh trí.

Khi chúng ta thực tập đến chiều thâm sâu, giáo pháp Thế Tôn thấm vào từng tế bào, chúng ta sẽ được gặp các bậc Thầy kỳ vĩ, những bậc Thiền sư lớn giúp chúng ta vượt ngang các tầng thiền định, chứng nghiệm được những tầng trí tuệ nhất định. Biết rằng khó gặp được bậc Đa Văn tầng thâm sâu thật đấy, nhưng đừng mất hy vọng. Nếu không ngừng nâng cao tâm thức, đến một tầm nhất định nào đó, chúng ta sẽ được thân cận với quý Ngài.

Cách ứng xử của bậc đa văn

Trong Thiền sử có kể về ngài Triệu Châu, sống đến 120.  Khi 30 tuổi, Ngài đã biết được Pháp hành trì nhưng vẫn quảy túi lang thang khắp nơi, chỗ nào có Pháp sư lên pháp toà giảng dạy, Ngài đều có mặt để học và tu. Đến 80 tuổi Ngài mới bắt đầu dừng lại một nơi để gầy dựng đạo tràng, tiếp Tăng độ chúng. Vị Hoàng đế lúc bấy giờ vô cùng ngưỡng mộ Ngài, quyết định đến thăm.  Khi Hoàng đế đến, Ngài không rời khỏi thiền sàng, chẳng màng đứng dậy đón khách, chỉ đưa tay ra hiệu mời Hoàng đế ngồi. Hoàng đế vô cùng hoan hỉ, không trách móc, cùng hàn huyên với Ngài Triệu Châu hồi lâu rồi về.

Hôm sau đến phiên một vị quan của Hoàng đế đến thăm Ngài. Nghe thị giả báo sắp có quan Ngự điện đến chùa, ngài Triệu Châu lật đật bước xuống thiền sàng, ra đón quan tận cổng. Ông quan Ngự điện đắc ý vì được nghinh đón trịnh trọng, về thưa với Hoàng đế:

– Tâu bệ hạ, hôm nay thần đến thăm ngài Triệu Châu, thần được Ngài nghinh đón ngay tận cổng. 

Hoàng đế hơi kinh ngạc:

– Hoá ra ngài Triệu Châu đón khanh tận cổng chùa ư? Thôi được! Mai ta sẽ ghé thăm ngài Triệu Châu một lần nữa xem có cách Ngài cư xử với ta khác hơn lần trước không.

Hôm sau Hoàng đế đến, ngài Triệu Châu vẫn y như cũ, vẫn ngồi bình yên bất động trên thiền sàng.  Hoàng đế lên tiếng trước:

– Thưa Ngài, hôm qua quan Ngự điện của tôi đến, Ngài ra tận cổng chùa đón, có phải vậy không?

Ngài Triệu Châu đáp:

– Đúng thế!

Hoàng đế hỏi tiếp:

– Với tôi, Ngài ngồi yên bên trong. Tại sao Ngài lại phân biệt đối xử như vậy?

Ngài Triệu Châu giải thích:

– Đón những người hiền lành, ta chỉ cần ngồi nơi Thiền sàng đón. Đón những người có chút danh ở nhân thế, ta ra cửa chùa đón. Đối với kẻ phàm phu ít học, ta còn phải ra tận cổng Tam quan đón nữa kia!

Đây là một bài học hay! Bậc đa văn đối với những bậc hiền trí, minh triết, có đạo hạnh, những lễ nghi hoa hoè hoa sói không quan trọng, nội dung đối xử với nhau bên trong mới cần thiết.  Đối với những người tâm thức ít nhiều còn cố chấp, bậc đa văn có chút lễ nghi khi ứng xử để tránh tình trạng oán thù xảy ra. Đối với những người thất học lòng tràn đầy thị phi, hoặc với những kẻ tiểu nhân lòng tràn đầy căm ghét, bậc đa văn phải giữ lễ khi đối xử với hạng người này để không tạo điều kiện cho họ có những phản ứng xấu, gây thêm ác nghiệp. Đó là cách ứng xử của các bậc đa văn với các hạng người ngoài đời, trong Đạo.

Kết luận

Có một truyện kể về cách chăn cừu của một cậu bé.  Một hôm cậu bé chăn cừu nhờ một thằng bé khác chăm nom đàn cừu của cậu trong một ngày. Do vì không có kinh nghiệm, thằng bé liên tục gom cả đàn cừu lại một khu, không cho cừu chạy tán loạn. Chăn cừu kiểu này, thằng bé rất mệt và đàn cừu thì bị lùa liên tục nên không được đứng yên một chỗ để ăn cỏ. Đến chiều thằng bé lùa đàn cừu về chuồng, và với bụng đói, cả đàn cừu náo động nguyên đêm. Hôm sau, cậu bé chủ cũ chăn lại đàn cừu.  Cậu lựa một thung lũng mênh mông đầy cỏ. Cậu thả cừu tự do, muốn đi đâu ăn cỏ cũng được, miễn trong vùng thung lũng ấy thôi. Không đầy nửa buổi, cả đàn cừu đã ăn no bụng. Phần cậu bé chăn cừu, cậu trèo lên phiến đá cao của đồi, thanh thản nằm chơi, chẳng phải làm gì ngoài việc dõi mắt quan sát đàn cừu đang đi tới đi lui ăn cỏ bên dưới. Khi mặt trời nghiêng bóng, cậu lùa đàn cừu về, và nhờ ăn đã no đầy, đêm ấy cả bầy cừu yên ổn ngủ ngon.

Công phu thiền tập của chúng ta cũng vậy. Buồn, vui, lo âu, phiền muộn v.v.. có khuynh hướng phá phách chúng ta nếu chúng ta tìm cách trấn ngự chúng, và chúng càng bộc phát mạnh nếu chúng ta muốn loại trừ chúng. Thế nên khôn ngoan nhất, chúng ta làm công việc của cậu bé chủ của đàn cừu, chỉ đơn giản theo dõi mọi động thái toàn thân của mình như đi, đứng, nằm, ngồi v.v..và mọi trạng thái tâm hành như vui buồn, hờn giận, ghét thương. Nhất là đối với các xúc cảm ta chỉ cần nhận biết tỏ tường sự có mặt của nó đang đến đang đi sinh hay diệt mà không đồng nhất mình vào nó thì mọi sầu, bi, khổ, ưu, não tự tan biến. 

Pháp hành trì này được gọi là Thiền Minh Sát, dạy chúng ta làm ánh mặt trời bao trùm toàn thân. Hãy bắt đầu bằng việc nhận biết hơi thở vào ra và mọi lay động của thân đều được chúng ta theo dõi nhận biết, chiếu sáng. Pháp hành trì này quá dễ thực hiện vì hơi thở hay thân của ta luôn sẵn đây để thực tập quan sát, và năng lực nhận biết cũng sẵn có đây, chẳng phải mượn ai mới có.

Hãy thử thực tập đi: Thay vì bước đi trong trạng thái vô hồn, giờ đây hãy thực tập nhận biết tỏ tường từng bước chân đi. Tâm dừng lại ngay nơi đây, sáng rỡ và tràn đầy sự nhận biết. Đầu tiên chỉ cần thiền tập dừng tâm ngay sát na hiện tiền trong một phút.  Dần dần chúng ta kéo dài một phút thành hai, ba phút. Những giây phút ấy tự nhiên tâm thức không còn những trạng thái trống trải, triệt tiêu luôn ưu tư phiền muộn vì không còn nghĩ về quá khứ, và cũng tắt ngấm những lo lắng suy nghĩ tương lai. Từ trạng thái tâm chánh niệm vững vàng như vậy, tuệ giác phát sinh, đoạn trừ khổ ưu. Đây là con đường đi vào tuệ quán dễ dàng, có thể thực hành từng phút giây, chứng nghiệm được an lạc ngay hiện tiền, chứng được Thánh trí, thành tựu Niết bàn.

Hãy thực tập đi để thấy thành tựu an lạc giải thoát không hề xa tầm tay chúng ta, và cũng không rời đời sống bình thường của chúng ta! Chỉ cần làm người quan sát, bước đầu sẽ đoạn trừ được ưu não, giận dữ và bất tường, bước kế tiếp có được an lành tuyệt hảo, cuối cùng chứng được Niết bàn. Xin được nhắc lại một lần nữa câu đã thưa ở trên: Muốn đi được đến phần cuối của đoạn đường, không có cách nào hay hơn là phụng thờ bậc đa văn, như lời Thế Tôn mời gọi trong câu đầu tiên của bài kệ.

Thích Phước Tịnh

Phiên tả dựa vào pháp thoại ‘Kết Một Tràng Hoa – Phẩm Quảng Học Đa Văn – 11’

http://thienquantam.com/index.php/audio-video/audio/thich-phu-c-t-nh/i-kinh-van-nguyen-th-y-4/th-p-nguy-n-ph-hi-n-13/T/12-thich-phu-c-t-nh/819-k-t-m-t-trang-hoa/13603-46-quang-hoc-da-van-11x
No comments yet.

Share Your Thought. Leave a Comment